Kinh tế - Xã hội
Bài 10: Hoàn thiện thể chế, chính sách tài chính trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Ban Kinh tế Trung ương trân trọng giới thiệu một số bài tham luận tại Hội thảo chuyên đề 1: "Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững vì một Việt Nam thịnh vượng" trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc và Triển lãm quốc gia về thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Bài 10: Hoàn thiện thể chế, chính sách tài chính trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

TS. Nguyễn Viết Lợi

Viện trưởng Viện Chiến lược và chính sách Tài chính

Bộ Tài chính

 

Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (2008) đã đề ra mục tiêu tổng quát là "Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ". Để thực hiện các mục tiêu đó, nhiều thể chế và chính sách đã được ban hành và hoàn thiện, trong đó có các chính sách về tài chính. Bài viết tập trung vào phân tích đánh giá những chính sách tài chính đã được thực hiện trong giai đoạn vừa qua và những vấn đề đặt ra trong giai đoạn tới nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách tài chính trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

1. Thể chế, chính sách tài chính trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các chính sách, pháp luật về thuế đã được sửa đổi, bổ sung theo để phù hợp với điều kiện thực tế, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất, trong đó lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn luôn là lĩnh vực được hưởng các mức ưu đãi cao nhất theo các luật thuế. Cụ thể:

Đối với thuế GTGT, mặc dù xu hướng chung là giảm đối tượng không chịu thuế song nhìn chung các mặt hàng thiết yếu là sản phẩm nông nghiệp vẫn được xếp vào nhóm không chịu thuế. Đó là các hàng hoá chủ yếu dùng cho đầu vào hoặc liên quan đến dịch vụ cung cấp cho hoạt động sản xuất nông nghiệp1. Ngoài ra, nhiều mặt hàng, sản phẩm nông nghiệp như sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chế biến ... đều được hưởng mức thuế suất ưu đãi 5% so với mức thuế suất thông thường là 10%. Hàng hóa là nông, lâm, thủy sản xuất khẩu đều được áp dụng mức thuế 0%, các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu được hoàn lại số thuế GTGT đầu vào.

Đối với thuế TNDN, diện miễn thuế cũng được mở rộng trong giai đoạn 2008-2018. Nếu như trước đây, diện miễn thuế chỉ được quy định đối với quy định "thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã; thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp"2 thì đến năm 2013 diện miễn thuế tiếp tục được mở rộng theo Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13. Và hiện nay, theo luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế thì diện miễn thuế TNDN bao gồm "Thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, chế biến nông sản, thủy sản, sản xuất muối của hợp tác xã; thu nhập của hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập của doanh nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, chế biến nông sản, thủy sản ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập từ hoạt động đánh bắt hải sản"3. Ngoài ra, tại Khoản 8 Điều 6 Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản quy định: "Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động khai thác hải sản, thu nhập từ dịch vụ hậu cần phục vụ trực tiếp cho hoạt động khai thác hải sản xa bờ; thu nhập từ đóng mới, nâng cấp tàu cá có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên để phục vụ hoạt động khai thác hải sản."4

Bên cạnh việc miễn thuế, một số thu nhập của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp cũng được áp dụng thuế suất ưu đãi 10%5 hoặc 15%6, thấp hơn đáng kể so với mức thuế phổ thông 20% hiện nay.

Đối với thuế thu nhập cá nhân, hộ gia đình, cá nhân cũng được miễn thuế TNCN đối với khoản thu nhập trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường và thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp được Nhà nước giao để sản xuất7; thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt Nam làm việc cho các hãng tàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế; thu nhập của cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu và cá nhân làm việc trên tàu từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản xa bờ8;  thu nhập cá nhân đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp khai thác hải sản9.       

Về thuế sử dụng đất nông nghiệp, nhằm góp phần khuyến khích và đẩy mạnh đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, lĩnh vực nông nghiệp, việc miễn thuế sử dụng đất được áp dụng đối với:  đối với: (i) Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, công nhận đất để sản xuất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả nhận thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp); (ii) Hộ gia đình, cá nhân là thành viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, nông trường viên, lâm trường viên đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh và hộ gia đình, cá nhân nhận đất giao khoán ổn định của công ty nông, lâm nghiệp để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật; (iii) Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật hợp tác xã10. Đặc biệt, mới đây Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong đó có nhiều quy định khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ mới như: doanh nghiệp có dự án nông nghiệp được miễn tiền chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất xây dựng nhà ở cho người lao động làm việc tại dự án; miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đó sau khi được chuyển đổi.

Về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, đã thực hiện chính sách miễn thuế cho các đối tượng bao gồm: Đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đất của doanh nghiệp sử dụng trên 50% số lao động là thương binh, bệnh binh. 1; Giảm 50% số thuế phải nộp đối với: Đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn đất của doanh nghiệp sử dụng từ 20% đến 50% số lao động là thương binh, bệnh binh.

Về thuế tài nguyên, lĩnh vực nông nghiệp cũng được miễn thuế đối với hải sản tự nhiên; cành, ngọn, củi, tre, trúc, nứa, mai, giang, tranh, vầu, lồ ô do cá nhân được phép khai thác phục vụ sinh hoạt; nước thiên nhiên bao gồm nước mặt và nước dưới đất, trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp12. Đồng thời, Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13 ngày 10/12/2015 đã điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế tài nguyên đối với gỗ nhóm V, VI, VII, VIII và các loại gỗ khác: từ 15% xuống 12%13.

Đối với các loại thuế phí khác như lệ phí trước bạ, thuế môn bài, Bộ Tài chính cũng đã có những quy định đặc biệt, ưu đãi riêng cho lĩnh vực nông nghiệp. Ngoài ra, Bộ Tài chính đã rà soát bãi bỏ hoặc trình cấp có thẩm quyền bãi bỏ các loại phí, lệ phí không hợp lý trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm giảm thủ tục hành hành chính, giảm chi phí đầu vào của doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.14

Bên cạnh chính sách thuế, chính sách đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp, nông thôn cũng được chú trọng, tăng cường. Nếu như giai đoạn 2008-2012, tổng vốn đầu tư từ NSNN cho phát triển nông nghiệp và nông thôn đạt 458.000 tỷ đồng thì giai đoạn sau đó 2013-2017, sô vốn này đã tăng lên là 712.000 tỷ đồng. Tính chung cả giai đoạn 2008 - 2017, vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước (NSNN) cho phát triển nông nghiệp và nông thôn là 1,17 triệu tỷ đồng, trong đó riêng nguồn vốn do Bộ NN&PTNT quản lý giai đoạn 2008 - 2017 từ NSNN là 103.925 tỷ đồng, trung bình đạt 10.392 tỷ đồng/năm.

Sau 8 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (2011-2018), không chỉ các nguồn lực từ NSNN mà các nguồn lực khác cũng đã được huy động cho xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn. Giai đoạn 2011-2015, cả nước đã huy động được khoảng 851.380 tỷ đồng. Năm 2016, cả nước huy động gần 332.475 tỷ đồng cho thực hiện Chương trình nông thôn mới, trong đó, ngân sách trung ương là 7.374 tỷ đồng (chiếm 2,2%), ngân sách địa phương là 23.193 tỷ đồng (chiếm 7%) và các nguồn vốn huy động khác (lồng ghép từ Chương trình, dự án khác là 4,7%; tín dụng khoảng 78,3%; từ DN khoảng 3,1%; người dân đóng góp khoảng 4,7%). Năm 2017, Chương trình đã huy động được khoảng 269.561 tỷ đồng. Bao gồm: 8.000 tỷ đồng từ ngân sách trung ương; 33.887 tỷ đồng từ vốn ngân sách địa phương; 38.076 tỷ đồng từ lồng ghép các chương trình dự án khác; 158.420 tỷ đồng là vốn tín dụng; 12.218 tỷ đồng từ vốn doanh nghiệp; và 18.959 tỷ đồng huy động từ nhân dân và cộng đồng[1].

Việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần giúp các hộ nông dân tiếp cận được nguồn vốn vay với chi phí thấp hơn. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nguồn lực NSNN có hạn, nhu cầu vốn để thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới rất lớn, việc khai thực hiện cơ chế huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới theo hướng đa dạng hóa các nguồn vốn (Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4-6-2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020) đã góp phần thời thúc đẩy các dự án đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn và đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn[2].

Đối với chính sách bảo hiểm nông nghiệp, là một trong số các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu, hàng năm đều bị tác động từ các loại hình thiên tai khác nhau như hạn hán, bão lụt, Việt Nam xem việc ứng phó với rủi ro thiên tai là một trong các ưu tiên chính sách trong nước. Chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ được coi là một trong số các công cụ, biện pháp hạn chế thiệt hại cho hoạt động nông nghiệp, đồng thời cũng chuyển dịch một phần nghĩa vụ hỗ trợ thiệt hại từ NSNN sang các doanh nghiệp bảo hiểm.

Sau một thời gian thực hiện chương trình thí điểm, ngày 18/4/2018 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 58/2018/NĐ-CP (có hiệu lực từ 5/6/2018) về bảo hiểm nông nghiệp đã đưa ra khung pháp lý về hoạt động bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam, trong đó, quy định về bảo hiểm nông nghiệp và chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân sản xuất trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại về tài chính do các rủi ro (rủi ro thiên tai, rủi ro bệnh dịch) xảy ra trong quá trình sản xuất. Một số đối tượng được hỗ trợ gồm: Cây trồng (Lúa, cao su, hồ tiêu, điều, cà phê, cây ăn quả, rau; vật nuôi (Trâu, bò, lợn, gia cầm); thủy sản (Tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra). So với giai đoạn thí điểm theo Quyết định số 315/QĐ-TTg, mức hỗ trợ tại Nghị định 58/2018/NĐ-CP đã có sự điều chỉnh theo hướng mở rộng đối tượng được hỗ trợ, không giới hạn phạm vi, địa bàn hỗ trợ; đồng thời tăng mức hỗ trợ cho các hộ cận nghèo, ưu tiên các tổ chức SXNN có quy mô lớn hướng đến nông nghiệp sạch…. Trong đó, mức hỗ trợ chia thành các nhóm: (i) Cá nhân sản xuất nông nghiệp (SXNN) thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 90% phí BHNN; (ii) Cá nhân SXNN không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo được hỗ trợ tối đa 20% phí BHNN; (iii) Tổ chức SXNN có quy mô lớn áp dụng khoa học công nghệ và quy trình sản xuất tiên tiến, hướng tới nền nông nghiệp sạch, thân thiện với môi trường: được hỗ trợ tối đa 20% phí BHNN.

2. Những vấn đề đặt ra về tiếp tục hoàn thiện chính sách tài chính trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

Có thể thấy rằng, sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, các chính sách tài chính trong các lĩnh vực thuế, đầu tư, bảo hiểm đã góp phần thúc đẩy, thu hút các nguồn lực đầu tư, tạo sự chuyển biến lớn về cơ cấu sản xuất và đổi mới bộ mặt nông nghiệp nông thôn của Việt Nam. Cụ thể:

Về mức tăng trưởng chung của ngành: Giai đoạn 2008-2017, mức tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp đạt 2,98%. Đặc biệt trong giai đoạn 2008-2011, và năm 2014, khi các ngành công nghiệp và thương mại có xu hướng tăng trưởng chậm lại do tác động của bối cảnh kinh tế suy thoái và nội tại nền kinh tế cũng gặp những khó khăn thì ngành nông nghiệp vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định, hỗ trợ cho sự phát triển chung của cả nền kinh tế. Mặc dù vậy, đóng góp của ngành nông nghiệp cho tăng trưởng kinh tế vẫn còn rất hạn chế.

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2008-2017

Năm

Tổng số

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Công nghiệp và xây dựng

Dịch vụ

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp  sản phẩm

2008

5,66

4,69

4,13

7,55

 

2009

5,4

1,91

5,98

6,55

 

2010

6,42

3,29

7,17

7,19

 

2011

6,24

4,23

7,6

7,47

2,07

2012

5,25

2,92

7,39

6,71

-1,6

2013

5,42

2,63

5,08

6,72

6,42

2014

5,98

3,44

6,42

6,16

7,93

2015

6,68

2,41

9,64

6,33

5,54

2016

6,21

1,36

7,57

6,98

6,38

2017

6,81

2,9

8

7,44

6,34

2008-2017

6,01

2,98

6,90

6,91

4,73

 

Nguồn: TCTK

Về cơ cấu lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp: Cơ cấu lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp cũng đã có xu hướng giảm từ mức 72,7% tổng số lao động cả nước trong năm 2008 xuống còn 67,8% trong năm 2017. Tuy nhiên, năng suất lao động ngành nông nghiệp vẫn còn rất thấp, ngành nông nghiệp chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu. Trình độ của lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn vẫn còn rất thấp. Do đó, dù thiếu việc làm nhưng họ vẫn không có năng lực chuyển đổi sang khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.

 

   Về thu nhập của người lao động trong khu vực nông thôn: Mặc dù thu nhập và mức sống của người dân ở khu vực nông thôn đã có những cải thiện đáng kể nhưng vẫn ở mức thấp. Theo số liệu điều tra mức sống hộ gia đình 2016, thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng ở khu vực nông thôn năm 2008 là 762,2 nghìn đồng, đến năm 2016 tăng lên là 2.422 nghìn đồng, chỉ tương đương ½ mức thu nhập bình quân nhân khẩu ở khu vực thành thị.

Bảng 2: Thu nhập bình quân nhân khẩu theo tháng ở khu vực nông thôn – thành thị

Nguồn: TCTK

Về đóng góp vào xuất nhập khẩu: Ngành nông, lâm, thủy sản Việt Nam đã xuất khẩu đến gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 157,49 tỷ đô la Mỹ, tăng 51,2% so với giai đoạn trước. Dự kiến năm 2018 sẽ đạt khoảng 40 tỷ đô la Mỹ. Tuy nhiên khi năng lực sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng nhanh thì thị trường tiêu thụ diễn biến khó lường với những yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm đòi hỏi Việt nam phải thay đổi để áp dụng phương pháp sản xuất hiện đại, đảm bảo chất lượng cho sản phẩm hàng hóa.

10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững (Quyết định 889/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ), ngành nông nghiệp, khu vực nông thôn cũng đã có những tín hiệu khởi sắc, đời sống của người dân cũng được cải thiện. Mặc dù vậy, đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất còn chậm, kinh tế hộ nhỏ lẻ vẫn chiếm tỉ trọng cao và đang bộc lộ những hạn chế, yếu kém cản trở quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. Do đó, cơ cấu lại ngành nông nghiệp để góp phần giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong thời gian tới. Để đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chính sách tài chính cần tiếp tục phải được hoàn thiện theo hướng:

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện ưu đãi ở mức cao về tài chính cho các dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nhất là đối với các dự án áp dụng công nghệ cao, công nghệ chế biến sau thu hoạch, dự án đầu tư vào các vùng đặc biệt khó khăn qua đó thu hút các nguồn vốn đầu tư chủ động xây dựng nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, góp phần bảo vệ an toàn người tiêu dùng và uy tín, thương hiệu mặt hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế. Thực hiện rà soát các khoản phí, lệ phí thuộc lĩnh vực nông nghiệp và các khoản phí, lệ phí mà người nông dân phải đóng khi được cung cấp dịch vụ công để có các chính sách phù hợp.

Thứ hai, rà soát các chính sách ưu đãi tài chính trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn để sửa đổi bổ sung theo hướng gắn chặt trách nhiệm của nông dân với trách nhiệm trước xã hội về chất lượng sản phẩm hàng hóa; nhiều chính sách còn thiếu chế tài quản lý; Tháo gỡ những vướng mắc trong các chính sách ưu đãi cho phù hợp với thực tiễn để tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Thứ ba, khuyến khích và đa dạng hóa các nguồn lực cho đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn: Hiện nay, các nguồn lực tập trung cho xây dựng nông ngiệp, nông thôn vẫn chủ yếu từ ngân sách nhà nước trong khi đó các nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn chưa đạt kết quả cao. Nguyên nhân là do, chính sách huy động vốn và ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chưa đủ hấp dẫn. Thực tiễn giai đoạn vừa qua cho thấy đầu tư công cho khu vực nông nghiệp nông thôn chiếm tỷ trọng thấp, dàn trải, chưa đáp ứng được nhu cầu (vốn đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp giai đoạn 2011-2015 đạt 304.500 tỷ đồng, bằng 1,71% GDP và bằng 5,4 % tổng vốn đầu tư toàn xã hội). Số vốn đầu tư tư nhân ít, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng dưới 2%), chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong giai đoạn tới, cần tập trung thực hiện các giải pháp huy động nguồn lực tài chính trong xã hội phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh của khu vực nông nghiệp, nông thôn trên nguyên tắc tách bạch giữa tín dụng thương mại và tín dụng chính sách, đảm bảo huy động các nguồn lực đa dạng cho phát triển nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là các nguồn lực nước ngoài để tăng quy mô sản xuất, hiện đại hóa máy móc thiết bị sản xuất. Ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông sản theo hướng hiện đại, chế biến tinh, chế biến sâu; giảm dần và tiến tới hạn chế xuất khẩu nông sản thô. Tiếp tục dành nguồn tín dụng ưu đãi để đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nhất là trong phát triển hạ tầng nông thôn; phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động ở nông thôn, các dự án phục vụ chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản…, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi.

Thứ tư, tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn: Yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn đang là yêu cầu cấp thiết và có tính chất sống còn đối với xã hội. Tuy có sự phát triển mạnh mẽ những năm vừa qua, song cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Do vậy, cần tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư cho các địa phương hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới. Về lâu dài, việc đầu tư kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn sẽ theo hướng hiện đại gắn với định hướng phát triển đô thị. Bên cạnh đó, cần tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản; phát triển các hình thức đầu tư BOT, PPP cho phát triển nông nghiệp, nông thôn./.

 


1 giống cây trồng, vật nuôi, nạo vét kênh mương nội đồng

2 Điều 4, Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12

3 https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thue-Phi-Le-Phi/Luat-sua-doi-cac-Luat-ve-thue-2014-259208.aspx

4 https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-dinh-67-2014-ND-CP-chinh-sach-phat-trien-thuy-san-238831.aspx

5 Áp dụng đối với thu nhập của doanh nghiệp từ: trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; nuôi trồng, chế biến nông, thủy sản ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; nuôi trồng lâm sản ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; sản xuất, nhân và lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; sản xuất, khai thác và tinh chế muối, trừ sản xuất muối quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật thuế TNCN; đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông sản, thủy sản và thực phẩm.

6 Áp dụng thuế suất thuế TNDN 15% đối với: "thu nhập của doanh nghiệp trồng trọt, chăn nuôi, chế biến trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.".

7 Tại Điều 4 Luật thuế TNCN, điểm 5, 6

8 Từ 01/01/2015, Luật số 71/2014/QH13

9 Khoản 7 Điều 6 NĐ số 67/2014/NĐ-CP

10 https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thue-Phi-Le-Phi/Nghi-dinh-21-2017-ND-CP-sua-doi-20-2011-ND-CP-mien-giam-thue-su-dung-dat-nong-nghiep-326509.aspx

1 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012)

12 Luật thuế tài nguyên số 45/2009/QH12; Điều 4 của các Luật về thuế số 71/2014/QH13

13 https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thue-Phi-Le-Phi/Nghi-quyet-1084-2015-UBTVQH13-ban-hanh-Bieu-muc-thue-suat-thue-tai-nguyen-301018.aspx

14 Ngày 25/11/2015, Quốc hội thông qua Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, theo đó, chuyển 06 khoản phí trong lĩnh vực nông nghiệp theo quy định hiện hành tại Nghị định số 24/2006/NĐ-CP sang thực hiện theo giá dịch vụ; Bãi bỏ 09 khoản lệ phí trong lĩnh vực nông nghiệp theo quy định tại Nghị định số 24/2006/NĐ-CP; Ngày 07/8/2015, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 113/2015/TT-BTC sửa đổi 01 khoản lệ phí, bãi bỏ 13 khoản lệ phí (Lệ phí cấp giấy chứng nhận vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh; lệ phí cấp giấy chứng nhận kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật vận chuyển qua bưu điện...), bãi bỏ 21 khoản phí thú y (Phí kiểm dịch trứng gia cầm các loại; phí kiểm dịch sản phẩm động vật pha lóc, đóng gói lại, sơ, chế biến;...)....

[1] Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về đánh giá kết quả thực hiện năm 2017 và dự kiến thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới năm 2018

[2] số DN hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản đã tăng từ 3.517 DN năm 2012 lên 4.500 DN năm 2016 và 5.661 DN năm 2017