Bài 11: Phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Tầm nhìn và giải pháp

Ban Kinh tế Trung ương trân trọng giới thiệu một số bài tham luận tại Hội thảo chuyên đề 1: "Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững vì một Việt Nam thịnh vượng" trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc và Triển lãm quốc gia về thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Bài 11Phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Tầm nhìn và giải pháp

Đặng Kim Sơn

Chuyên gia chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn

 

Trong gần 30 quốc gia phát triển đã công nghiệp hóa thành công từ thế kỷ 19, khi trải qua giai đoạn tập trung tăng trưởng kinh tế cao để cất cánh công nghiệp hóa đều phải đối đầu với tình trạng bất ổn định của đất nước. Quá trình công nghiệp hóa đồng nghĩa với một thời kỳ biến động của khủng hoảng kinh tế, cách mạng và chiến tranh, dịch bệnh và thiên tai. Nguyên nhân chính là mô hình tăng trưởng "phân cách kinh tế" mà họ áp dụng thường tập trung đầu tư vào công nghiệp và đô thị làm động lực tăng trưởng song song với lấy đi tài nguyên từ nông nghiệp, nông thôn, khai thác tài nguyên, môi trường. Cho đến khi kinh tế đã phát triển sẽ áp dụng chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp, đầu tư lại cho nông thôn để duy trì ổn định xã hội. 

Trong thời đại ngày nay, phát triển ổn định và vững bền trở thành yêu cầu tất yếu cả trong lĩnh vực kinh tế xã hội và môi trường, đã trở thành nguyên tắc của mọi quốc gia. Tuy nhiên, nhiều quốc gia Đông Nam Á, Nam Á, Nam Mỹ… trong khi áp dụng chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo để duy trì ổn định xã hội vẫn tập trung đầu tư cho công nghiệp và đô thị làm động lực tăng trưởng. Mô hình tăng trưởng "phân cách kinh tế" nhằm giữ nguyên khoảng cách nông thôn - đô thị kiểu này, trong nhiều trường hợp, không cản được nông nghiệp và nông thôn vẫn tụt hậu ngày càng xa, đánh mất thị trường của công nghiệp, lao động và dân cư di cư về làm đô thị quá tải đưa đất nước rơi vào "bẫy thu nhập trung bình".

Về kinh tế, các mô hình tăng trưởng nóng, tập trung vào một số địa bàn đô thị, hiệu ứng lan tỏa và kết nối kém, dựa vào sự vượt trội của một số lĩnh vực được ưu tiên đầu tư - thường là các lĩnh vực kinh tế phi sản xuất như bất động sản, tài chính,…; trong lĩnh vực sản xuất thì phát triển nhờ vào khai thác khoáng sản, sử dụng nhiều năng lượng, nhiều tài nguyên, có hiệu quả kinh tế thấp, có giá trị gia tăng thấp, có hàm lượng khoa học công nghệ thấp, theo mô hình gia công, nhiều ngành kinh tế hướng vào thay thế nhập khẩu. Về thành phần kinh tế dựa chủ yếu vào khu vực đầu tư nước ngoài với tỷ lệ đóng góp nội địa thấp. Đây là nguy cơ suy giảm tăng trưởng, giảm sút khả năng cạnh tranh, hạn chế khả năng tích lũy năng lực quốc gia và tạo nguy cơ khủng hoảng kinh tế.

Về mặt môi trường, thách thức của quá trình phát triển vững bền là việc khai thác cạn kiệt và làm xuống cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, khoáng sản, sinh học,…; làm ô nhiễm môi trường vì chất thải sản xuất và sinh hoạt; phá hoại cảnh quan tự nhiên, mất cân bằng sinh thái, phá vỡ cân đối không gian ở đô thị và nông thôn; thúc đẩy quá trình biến đổi khí hậu  theo chiều hướng xấu; khiến cho sản xuất và sinh sống của nhân dân hứng chịu rủi ro của thiên tai, dịch bệnh, thậm chí dẫn đến các khủng hoảng và thảm họa môi trường.

Về mặt xã hội, phát triển kém vững bền đi kèm với tình trạng bất bình đẳng về tiếp cận cơ hội của các thành viên trong xã hội với tài nguyên, học hành, việc làm, thông tin,...  dẫn đến tình trạng mất công bằng về thu nhập kinh tế và hưởng thụ các điều kiện sống cơ bản như ăn, mặc, ở, sử dụng nước sạch, chăm sóc y tế, giáo dục, hưởng thụ văn hóa...; nhìn rộng ra là sự bất bình đẳng về quyền lực chính trị, về vị thế xã hội, về chất lượng đời sống,… của các cá nhân và tập thể theo hướng bất lợi cho các nhóm yếu thế, nhất là đồng bào dân tộc, người nghèo, người sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn…  kết quả sẽ dẫn đến hình thành và phát triển các mâu thuẫn xã hội gây nên bất ổn chính trị.

Ở Trung Quốc năm 2000, một nông dân đã gửi thư cho Thủ tướng Chu Dung Cơ kêu lớn: "Bây giờ nông dân thật khổ, nông thôn thật nghèo, nông nghiệp thật nguy hiểm!". Năm 2004 đảng Cộng sản Trung Quốc ra văn kiện số 1 đưa ra chính sách tăng thu nhập cho nông dân, từ đó đến nay hàng loạt chính sách mới ra đời thúc đẩy nông thôn nông nghiệp Trung Quốc lên bước phát triển lớn nhưng mô hình tăng trưởng "phân cách kinh tế" kém vững bền với khoảng cách thu nhập trung bình giữa đô thị và nông thôn gấp 3 lần vẫn đe dọa thành tựu phát triển của nước này.

Việt Nam sau 2 thập kỷ đổi mới kinh tế, cũng phải đối mặt gay gắt với mâu thuẫn trên. Để bàn giải pháp khắc phục tình trạng tụt hậu của nông nghiệp, nông thôn, sự khó khăn của nông dân, ngày 5 tháng 8 năm 2008, Hội nghị Trung ương 26 đã họp, ra nghị quyết về Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn. Sau 10 năm triển khai, năm nay chúng ta tiến hành tổng kết Nghị quyết về vấn đề chiến lược này.

Cũng như Trung Quốc, nông nghiệp - nông dân - nông thôn của Việt Nam là vấn đề sống còn. Chỉ có thể giải quyết trên tinh thần nhìn nhận nghiêm túc vai trò quan trọng của nó trong quá trình công nghiệp hóa, từ đó đề ra các chính sách phối hợp kinh tế xã hội, nhất là phát triển thành thị và công nghiệp với phát triển nông nghiệp, nông thôn, lấy bảo vệ quyền lợi và huy động tính chủ động của nông dân làm động lực, khắc phục mô hình "kinh tế phân cách" bằng mô hình "tăng trưởng bao trùm" mới có thể giải quyết vấn đề phát triển vững bền một cách căn bản.

Nhìn lại việc thực hiện nghị quyết 26 trong nông nghiệp: bên cạnh những thành tựu nổi bật về chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cải thiện tăng trưởng, vẫn còn nhiều yếu kém được Nghị quyết chỉ ra vẫn chưa mạnh lên một cách rõ rệt như việc phát huy các nguồn lực, phát triển khoa học - công nghệ, đào tạo nhân lực, đổi mới tổ chức sản xuất, cải thiện năng lực cạnh tranh. Trong nông thôn và nông dân, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và đời sống nông dân, giảm hộ nghèo là lĩnh vực có nhiều thay đổi nhất, còn công tác quy hoạch, cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn, ô nhiễm môi trường, đối phó với thiên tai, chênh lệch giàu, nghèo, mâu thuẫn xã hội chuyển biến còn chậm.

Những nguyên nhân của các khiếm khuyết trên đã được Nghị quyết chỉ ra cho đến nay vẫn chưa có chuyển biến đột phá, vẫn tiếp tục kìm hãm tiến bộ như các yếu kém trong nhận thức về vị trí, vai trò NN, ND,NT; về quan điểm lý luận và trong việc hoạch định, thi hành các cơ chế, chính sách: thiếu đồng bộ, thiếu đột phá; không hợp lý, thiếu tính khả thi; đầu tư ngân sách và các thành phần kinh tế thấp; quản lý nhà nước bất cập; thực hiện chính sách hạn chế.

Sau 10 năm thực hiện, trong mục tiêu tổng quát của Nghị quyết thì Đảm bảo an ninh lương thực là lĩnh vực thành công rõ rệt nhất, mặc dù các khía cạnh dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm... vẫn là những vấn đề cần tiếp tục cải thiện; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nông dân là lĩnh vực có nhiều tiến bộ mặc dù so với các thành phần khác trong xã hội, mức độ cải thiện của nông dân vẫn chậm hơn; hệ thống chính trị của Đảng vững mạnh. Còn lại, đa số mục tiêu đề ra vẫn chưa thực sự đạt như phát triển hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; đào tạo nông dân sản xuất bằng nước tiên tiến khu vực; nông dân làm chủ nông thôn mới; Nông nghiệp phát triển toàn diện, hiện đại, bền vững; sản xuất hàng hoá lớn, năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao; nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; có cơ cấu KT, tổ chức SX hợp lý; gắn quy hoạch công nghiệp, dịch vụ, đô thị; xã hội ổn định, bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí cao; bảo vệ môi trường; liên minh công nhân - nông dân - trí thức;…

Nghị quyết 26 ra đời năm 2008 đúng thời điểm Việt Nam mới gia nhập WTO, lại là thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, vốn nước ngoài ào ạt đổ vào, kinh tế tăng trưởng GDP 9%, quốc tế ca ngợi,… chính phủ phấn đấu hoàn thành kế hoạch 5 năm trong 3 năm. Hàng loạt chính sách đẩy kinh tế tăng trưởng nóng được đưa ra: phân cấp cho tỉnh quản lý đầu tư, cấp đất, mở khu công nghiệp... Ngân sách đổ vào các tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tư sang chứng khoán, bất động sản, ngân hàng thương mại.… và xây dựng cơ sở hạ tầng lớn. Doanh nghiệp đầu tư vào sân golf, bất động sản, nhà máy thép, xi măng, lọc dầu,… hàng trăm trường đại học và cao đẳng thành lập, Hà Nội mở rộng, qui hoạch thành phố bị phá vỡ với hơn 700 dự án bất động sản. Tình trạng thu hồi đất cho các dự án tư nhân gây bức xúc trong nhân dân.

Giữa năm 2008, nền kinh tế Việt Nam mất cân đối, nhập siêu quá mức an toàn, thị trường chứng khoán sụt giảm, nợ công cao, lạm phát vọt lên 25%, thị trường bất động sản đóng băng… thế giới cũng rơi vào suy giảm kinh tế lớn khiến cho thị trường xuất khẩu và đầu tư vào Việt Nam cùng giảm sút. Ở Hà Nội mới mở rộng, hàng trăm dự án trên đất Hà Tây và Vĩnh Phúc cũ trở thành "treo". Nhà nước lo ổn định kinh tế vĩ mô, đột ngột nâng cao lãi suất cơ bản, tăng dự trữ bắt buộc và qui định lãi suất thấp cho các ngân hàng thương mại. Tín dụng thắt chặt, nông dân và doanh nghiệp nhỏ khó duy trì sản xuất và tìm kiếm thị trường. Nhiều năm, lúa bội thu phải thu mua tạm trữ, trái cây dễ hỏng như vải, nhãn, dưa hấu,… liên tục ế thừa, cá ba sa sụt giá, sắn phát triển mạnh không có nhà máy chế biến,…

Giữa năm 2008 thế giới khủng hoảng lương thực, giá gạo Việt Nam tăng vọt 168% cùng kỳ năm trước. Nhà nước qui định giữ cứng quĩ đất lúa, cơ cấu sản xuất không chuyển được theo tín hiệu thị trường làm thu nhập của nông dân thêm khó khăn. Vội vã tăng trưởng công nghiệp, lơ là bảo vệ môi trường đã dẫn đến thảm họa năm 2016 tại nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh gây thiệt hại rộng trên một dải ven biển miền Trung trong nhiều năm. Trong những năm gần đây, các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu trở thành nguy cơ đe dọa sản xuất và đời sống của cư dân nông thôn ở các vùng trọng điểm nông nghiệp Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Mười năm qua, cả quá trình phát triển kinh tế nóng trước đó và những điều chỉnh kinh tế ngăn chặn khủng hoảng đều tạo môi trường bất lợi cho các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn của Nghị quyết 26.

So với Việt Nam, Trung Quốc say sưa hơn với thắng lợi. Suốt 10 năm tăng trưởng GDP 9,8%, năm 2007, kim ngạch xuất nhập khẩu Trung Quốc tăng 107 lần so với năm 1978. Thế giới rơi vào khủng hoảng tài chính toàn cầu lúc kinh tế Trung Quốc đang quá "nóng". Hàng chục vạn nhà máy đóng cửa, 20 vạn người mất việc dẫn đến nguy cơ bất ổn chính trị. Trung Quốc phải "thắt chặt tài chính", "chống lạm phát" nhưng khác với Việt Nam, công tác Tam Nông lại được trú trọng đẩy mạnh như giải pháp phòng vệ quan trọng. Năm 2009, Trung Quốc ổn định sản xuất lương thực đồng thời điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp theo nhu cầu thị trường. Đầu tư công cho Tam nông tăng 17%, vào hạ tầng nông nghiệp và công trình dân sinh nông thôn, nâng giá mua lương thực. Trợ cấp cho nông nghiệp tăng 20 tỉ NDT. Các cải cách xã hội hóa dịch vụ nông nghiệp, hoàn thiện chế độ kinh doanh nông thôn được đẩy mạnh. Nhờ đó, 10 năm qua, nông nghiệp, nông thôn phát triển, chuyển sang làm giàu cho nông dân.

Như vậy, dù thu hút được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân và đi đúng quy luật phát triển khách quan của xã hội nhưng vẫn có nhiều nội dung quan trọng của Nghị quyết Tam nông vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống do hoàn cảnh bất lợi, do những yếu kém trong triển khai thực hiện chính sách, và cả do yếu kém trong bản thân nội dung Nghị quyết.

Có những mục tiêu rất đúng nhưng không đi kèm giải pháp thi hành hiệu quả như: nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị; nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao; xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng vùng nuôi, trồng thủy sản, trước hết là thuỷ lợi; phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu và thị trường; quy hoạch bố trí lại dân cư nông thôn gắn với xây dựng công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị ở các vùng; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển các đô thị; thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai; quyền sử dụng đất được vận động theo cơ chế thị trường. Định giá bảo đảm hài hòa quyền lợi của người sử dụng đất, của nhà đầu tư và của Nhà nước trong quá trình giải tỏa, thu hồi đất.

Có những mục tiêu đặt ra rất hay nhưng vượt quá khả năng đầu tư và thực hiện như: phát triển hài hoà giữa các vùng, tạo chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, nông dân đóng vai trò làm chủ nông thôn mới; nông nghiệp phát triển toàn diện, hiện đại, bền vững; bảo đảm lợi ích cho người, địa phương và vùng trồng lúa.

Cũng có những giải pháp đề ra vượt quá năng lực hoặc chưa hợp lý như: quy hoạch và cơ chế bảo vệ vững chắc đất trồng lúa để đảm bảo an ninh lương thực; tăng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại; phát triển nhanh khai thác thủy sản xa bờ.

Một trong những khiếm khuyết quan trọng đã được Nghị quyết 26 chỉ ra là nhiều đường lối chính sách về nông nghiệp nông dân và nông thôn của Việt Nam chưa đem lại kết quả như mong muốn do: "nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn; chưa hình thành một cách có hệ thống các quan điểm lý luận về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn". Việc xác định vai trò, chức năng khác nhau dẫn đến chiến lược phát triển khác nhau và đem lại kết quả khác nhau. Đây chính là vấn đề cần khắc phục hôm nay.  

Về vai trò của nông nghiệp trong công nghiệp hóa, đã từ lâu các nhà kinh tế chỉ ra 5 đóng góp quan trọng1: cung cấp lương thực và nguyên liệu cho nền kinh tế; là nguồn thu ngoại tệ quan trọng ở những quốc gia nông sản xuất khẩu; cung cấp lao động cho công nghiệp; tích lũy vốn đầu tư công nghiệp hoá; là thị trường cho các ngành trong nền kinh tế.

Phát triển sản xuất nông nghiệp tạo ra mức nông sản thặng dư, hạ giá lương thực và chuyển lao động sang công nghiệp là tiền đề cho mọi quốc gia khởi động công nghiệp hóa. Nước Anh cho đến nửa cuối thế kỷ 18 đã tiến hành cuộc "cách mạng luân canh Norfolk" trong nông nghiệp, tạo đà cho cách mạng công nghiệp. Ở Mỹ, từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 cách mạng nông nghiệp mở rộng qui mô sản xuất và cơ giới hóa đã khởi động cho công nghiệp phát triển. Ở Nhật Bản cuối thập niên 1880 đến năm 1920, vua Minh Trị phát triển mạnh nông nghiệp và xâm chiếm Đài Loan và Triều Tiên để có đủ lương thực cho công nghiệp hóa.

Chức năng lấy đi từ nông nghiệp được coi trọng ở mọi quốc gia Âu Mỹ, nhưng biện pháp phát triển sinh kế, việc làm để tạo thu nhập cao và ổn định cho lao động nông nghiệp, biến nông thôn thành thị trường cho công nghiệp thì chỉ mới được chú ý gần đây ở các nền kinh tế Đông Á và là chìa khóa quyết định sự thành công thần kỳ tăng tốc về đích công nghiệp hóa. Bằng cách áp dụng mô hình "kinh tế liên kết", tăng thu nhập chung của nông dân lên mức bình quân cả nước biến nông thôn rộng lớn với 70 - 80 % dân số trở thành thị trường to lớn, các nước này đã có điều kiện tích lũy chuyển công nghiệp và dịch vụ sang xuất khẩu.

Nhật Bản tạo điều kiện để nông dân áp dụng khoa học công nghệ, tích tụ tư bản và đất đai, tái sản xuất mở rộng và chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Từ 1955 đến 1965, thu nhập bình quân hộ nông dân Nhật Bản tương đương thu nhập hộ làm công nghiệp ở thành phố. Hàn Quốc trong giai đoạn tích lũy công nghiệp hóa kể từ 1974, thu nhập trung bình của cư dân nông thôn đã cao bằng thu nhập của dân đô thị. Đài Loan 1956 - 1966, tuy dân số chỉ khoảng 10 triệu người nhưng nhờ có thu nhập cao, địa bàn nông thôn tiêu thụ thường xuyên tới 40% sản phẩm công nghiệp nên tổng cộng thị trường nội địa đã đóng góp tích lũy tới 60% tăng trưởng của công nghiệp chế tạo.

Ngoài nguyên tắc nông dân giàu, thế giới hiện đại còn đề cao nguyên tắc nông thôn sạch, đẹp, tạo ra vai trò mới của nông nghiệp, nông thôn về bảo vệ môi trường, làm giàu sinh thái, làm đẹp sinh cảnh, tái tạo và bảo vệ tài nguyên; phát triển quan hệ cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc,… Như vậy, nông dân không chỉ đóng vai trò người sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, nguồn cung lao động cho nền kinh tế mà còn là đối tượng cung cấp các dịch vụ công cộng về môi trường, văn hóa,… đảm bảo môi trường ổn định suốt quá trình diễn ra những biến động mạnh mẽ của đô thị hóa và công nghiệp hóa. Ở Việt Nam, nông thôn, nông dân còn đóng vai trò quan trọng trong cách mạng, trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, trong gìn giữ biên cương, hải đảo; đi đầu trong quá trình đổi mới cơ chế chính sách…

Đến nay, số lượng các nền kinh tế thực sự lựa chọn mô hình "kinh tế liên kết" còn đếm trên đầu ngón tay thì nhiều nước ở Đông Nam Á, Nam Á, Mỹ La Tinh, châu Phi,… vẫn đang phát triển tiếp tục áp dụng chiến lược lấy đi từ nông nghiệp, nông thôn, áp dụng mô hình "kinh tế chia cắt". Trong mô hình này, cư dân đô thị, nhất là tầng lớp thượng lưu sẽ giàu lên trước, chính sách phát triển nông thôn chỉ nhằm xóa đói giảm nghèo, giữ nguyên khoảng cách về thu nhập và điều kiện sống giữa nông thôn và đô thị. Lĩnh vực công nghiệp được tập trung đầu tư thành đầu tàu tăng trưởng kinh tế để phân phối lại cho nông nghiệp, nông thôn. Kết quả là nông thôn nghèo, thị trường thu hẹp khiến công nghiệp và dịch vụ kém phát triển, nông dân di cư về đô thị làm đất nước rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Khác với Âu Mỹ trước kia, công nghiệp hóa ở các nước châu Á rút lao động nông nghiệp ra rất chậm. Nhật Bản 1878 -1912 công nghiệp chỉ thu hút số lao động tương đương mức tăng dân số tự nhiên, lao động nông nghiệp giảm từ 15.5 triệu xuống 14.5 triệu. Ở Đài Loan giai đoạn đầu công nghiệp hóa, mỗi năm chỉ khoảng 0,3 - 2,3% lao động nông thôn được hút ra thành phố. Ở Trung Quốc số lượng nông dân đạt đỉnh điểm vào năm 2000 là 942 triệu người và bắt đầu giảm, tới nay Trung Quốc vẫn còn 300 triệu nông dân. Việt Nam doanh nghiệp nhà nước và nước ngoài thu hút lao động ít nên tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn chiếm trên 40% tổng lao động xã hội.

Trong bối cảnh lao động nông nghiệp rút ra rất ít và chậm như vậy, nếu qui hoạch các "vùng kinh tế động lực" tập trung vào vùng ven đô thị lớn như ở Trung Quốc hay Việt Nam sẽ tạo sức ép dân và lao động di cư dồn về các thành phố lớn. Giải pháp hợp lý nhất là chuyển mô hình tăng trưởng từ ưu tiên phát triển các vùng vùng động lực sang phát triển bao trùm, tạo điều kiện để các vùng trong cả nước, nhất là các địa phương có lợi thế sản xuất nông nghiệp có thể phát huy nội lực.

Thập kỷ 1980, bắt đầu cải cách kinh tế từ tàn dư ngổn ngang của "Cách mạng Văn hóa" trên một đất nước rộng lớn và bộ máy nhà nước trì trệ, bảo thủ, Đặng Tiểu Bình đề ra chủ trương phải để một bộ phận nhân dân, một số vùng đi lên giàu có trước, sau đó mới kéo theo cả nước cùng phát triển. Dải phía đông ven biển được lựa chọn với điểm đột phá là thành lập 4 khu chế xuất rồi chuyển thành "đặc khu kinh tế". Đến giữa thập kỉ 80, hình thành cánh cung đặc khu kinh tế và thành phố phía Đông. Kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh kèm theo mức mất công bằng xã hội lớn và ô nhiễm môi trường.

Trong khi các vùng động lực đóng góp nhiều cho quốc gia thì các vùng nông thôn lạc hậu bị rơi lại phía sau. Khoảng 700 triệu dân thoát khỏi tình trạng bần cùng nhưng chỉ có chừng 400 triệu lên mức trung lưu, còn hơn 900 triệu người ở mức đủ sống. Trung Quốc vừa là quốc gia có thành tích tốt nhất về xóa đói giảm nghèo, vừa trở thành nước có mức chênh lệch thu nhập lớn nhất thế giới. Hệ số Gini (đo bất bình đẳng thu nhập) của nước này đã vượt xa mức "bất bình đẳng thu nhập nghiêm trọng" của Ngân hàng Thế giới.

Việt Nam giống như Trung Quốc, có nền nông nghiệp sản xuất tốt và tốc độ xóa đói giảm nghèo nhanh, chương trình phát triển nông thôn mạnh nhưng vẫn mang đậm nét mô hình "kinh tế chia cắt" với đặc điểm "lương thực rẻ, lao động nông thôn rẻ, đất nông nghiệp rẻ". Kinh tế Việt Nam phát triển năng động tập trung vào hai khu vực quanh Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và tăng trưởng chậm ở các tỉnh thuần nông, 26% tỉnh trong 2 khu vực này cung cấp 72% ngân sách cả nước. Chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và đô thị cách nhau là 2 lần nhưng số liệu tuyệt đối đang doãng ra.

Các nền kinh tế Đông Bắc Á cũng mắc phải tình trạng tương tự giai đoạn đầu phát triển. Nhật Bản tái thiết sau chiến tranh thập kỷ 1950 và 1960 tập trung hoạt động kinh tế và dân cư quanh thành phố Tokyo, Osaka tạo thành trung tâm Tokaido Megalopolis đông đúc, ở Hàn Quốc sản xuất và lao động dồn về khiến Seoul và Pusan tăng dân số lên thành một siêu đô thị. Thập kỷ 1960 ở Đài Loan các khu công nghiệp cũng tập trung về 2 thành phố lớn Cao Hùng và Đài Bắc. Tình trạng trên được sửa sai sau đó bằng chủ trương đưa các khu công nghiệp từ đô thị về các vùng nông thôn, tháo bỏ các "vùng kinh tế động lực" cũ. Trong 15 năm, các thành phố vệ tinh của Seoul đã tăng từ 4 lên 11. Đài Loan suốt 50 - 60 năm sau, phát triển các khu công nghiệp về hầu hết các địa bàn, hướng vào những vùng đất cằn cỗi hoặc đất lấn biển không sản xuất nông nghiệp, xa khu dân cư.

Bên cạnh vấn đề địa bàn phát triển kinh tế, trong một nền "kinh tế liên kết", nguồn tích lũy tư bản cả nước phải đến từ đông đảo người dân thông qua cơ hội việc làm và thu nhập ổn định. Với các quốc gia đi lên từ nông nghiệp, cư dân nông thôn chiếm phần lớn dân cư thì nguyên tắc đầu tiên phải thực hiện là "nông dân giàu" (song song và quan trọng không kém gì việc phát triển đội ngũ doanh nhân). Nguyên tắc thứ hai là công nghiệp - nông nghiệp, đô thị - nông thôn phải liên kết. Kinh nghiệm các quốc gia thành công cho thấy có 3 giải pháp để nông dân giàu, nâng mức thu nhập nông thôn lên bằng mức thành phố:

Giải pháp thứ nhất là tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, phát triển trang trại. Năm 1961, chính phủ Nhật Bản trợ cấp cho nông dân mua đất, khuyến khích nông dân cho thuê đất và xóa bỏ hạn điền. Hàn Quốc nâng hạn điền từ 10 ha và cao hơn. Thập kỉ 1980, Đài Loan phát triển hợp tác, hợp đồng khoán đất, hợp đồng cơ giới hóa. Trung Quốc, gom đất 30% hộ nông dân ở nông thôn cho doanh nghiệp thuê canh tác. Nhật Bản lập Ủy ban Nông nghiệp đại diện cho nông dân làm nhiệm vụ khảo sát, bàn bạc, xem chủ đất nào muốn bán, muốn thuê và lập ra Ngân hàng Đất Nông nghiệp để cho doanh nghiệp hay trang trại lớn thuê lại theo mức giá thị trường. Nhà nước vừa hỗ trợ ngân sách cho các Ngân hàng Đất, đồng thời đánh thuế cao nông dân bỏ đất hoang và thu hồi đất hoang không chủ, hỗ trợ doanh nghiệp và trang trại lớn thuê lại đất.

Giải pháp thứ hai là tạo cơ hội chuyển lao động nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp. Bằng chính sách phát triển cơ sở hạ tầng nhất là giao thông để đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn, Nhật Bản từng bước tăng tỷ lệ đóng góp thu nhập phi nông nghiệp trong thu nhập của hộ cư dân nông thôn. Năm 1950 mức này gần 30% đến năm 1960 tăng lên 62%, năm 1995 là 79%; lao động phi nông nghiệp chiếm 73% tổng số lao động tăng lên 95%. Đài Loan có nhiều lao động nông nghiệp nhất giữa thập kỷ 60, rồi hút hết lao động nông thôn bằng đưa nhà máy về nông thôn, lao động nữ vào các ngành dịch vụ và công nghiệp. Nhờ đó mức phân phối thu nhập nông thôn Đài Loan đạt công bằng xã hội cao nhất thế giới.

Giải pháp thứ ba là phát triển doanh nghiệp. Doanh nghiệp nông thôn không đến từ thu hút đầu tư bên ngoài mà phải chính từ quá trình khởi nghiệp của nông dân. Từ năm 1990, Nhật Bản khuyến khích nông dân thành lập doanh nghiệp và cho doanh nghiệp nông nghiệp mua hoặc thuê đất của nông dân. Năm 2009, Nhật bỏ yêu cầu người sử dụng đất nông nghiệp phải trực tiếp canh tác, cho phép các doanh nghiệp kinh doanh ngoài lĩnh vực nông nghiệp được thuê/mua đất làm nông nghiệp. Năm 2014, các doanh nghiệp đã canh tác trên gần 50% diện tích đất nông nghiệp. Tại Trung Quốc, khi hệ thống công xã nhân dân giải tán đã hình thành nên lĩnh vực "công nghiệp hương trấn" độc đáo, tăng từ 20% năm 1988 lên trên 40% trong tổng sản lượng công nghiệp quốc gia năm 1994, chiếm 56% sản lượng công nghiệp, vượt doanh nghiệp nhà nước, tạo việc làm cho khoảng 130 triệu lao động, gấp hơn 2 lần doanh nghiệp nhà nước. Dần dần loại hình này trở thành doanh nghiệp nông thôn.

Để gắn kết nông nghiệp - công nghiệp, đô thị - nông thôn thì cần phát triển công nghiệp và đô thị trên địa bàn nông thôn, tạo việc làm và thu nhập cho lao động ở ngay nông thôn để lao động nông nghiệp ly nông bất ly hương, không di cư ra đô thị; tiến đến mức cao hơn là chính thức hóa đội ngũ lao động "phi chính thức" bằng các tổ chức nghiệp đoàn, đăng ký lao động và trợ cấp hỗ trợ bảo hiểm,…; cách tốt nhất là tạo ra một mô hình kinh tế liên kết, trong đó các ngành công nghiệp, dịch vụ gắn bó mật thiết với sản xuất nông nghiệp, tạo ra giá trị gia tăng mới, tăng năng suất và khả năng cạnh tranh của nông sản.

Ở Nhật Bản, nhờ đào tạo nghề cho lao động, phát triển kết cấu hạ tầng nhất là giao thông, xây dựng hệ thống năng lượng và liên lạc hoàn chỉnh và giá dịch vụ thấp,... nên không chỉ các khu công nghiệp và nhà máy chế biến dùng nguyên liệu nông nghiệp như tơ tằm, dệt may mà cả các ngành cơ khí, hóa chất cũng phân tán trên địa bàn toàn quốc. Ngay từ năm 1883, 80% các nhà máy lớn đã nằm ở nông thôn, khi đó, đã có tới 30% lao động nông nghiệp có thu nhập thêm từ các hoạt động phi nông nghiệp, công nghiệp, năm 1920 tỷ lệ này tăng tới 45%, năm 1935 là 54% và năm 1960 là 66%. Cho đến năm 1990, tính cả nguồn từ nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu nhập của nông dân đầu người hay bình quân hộ đều cao hơn thu nhập hộ công nhân đô thị.

Các "khu công nghiệp" và "khu chế xuất" tại Đài Loan được xây dựng kết cấu hạ tầng, có sẵn nhà xưởng cho thuê, có các dịch vụ phụ trợ, gắn với mạng lưới các doanh nghiệp hỗ trợ, được áp dụng chính sách hỗ trợ và biện pháp quản lý theo cơ chế một cửa, tại chỗ, đơn giản thủ tục hành chính. Nhờ vậy tránh được dân di cư về đô thị và không tạo ra chênh lệch kinh tế giữa các vùng. Cả Đài Loan có tới 57% nông dân làm công nhân theo thời vụ và chỉ có 17% công nhân phải rời làng ra thành phố, hầu hết lao động vẫn ở lại nông thôn và đi làm ở các nhà máy đặt tại vùng nông thôn.

Cách tốt nhất thu hút đầu tư về nông thôn, đưa công nghiệp và đô thị phát triển về nông thôn là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông thuận tiện. Đây cũng là giải pháp quan trọng để hình thành sức cạnh tranh cho nông nghiệp. Ngoài ra, cần phải đầu tư vào dịch vụ hỗ trợ và công nghiệp chế biến, kinh doanh nông sản.

Ví dụ để khắc phục khoảng cách xa từ Tây sang Đông, Trung Quốc ưu tiên phát triển cao tốc và tàu hỏa, đầu tư đồng bộ mạng lưới quốc lộ và đường nhánh giảm chi phí vận chuyển xuống còn 20%-30%. Chi phí vận chuyển đến cảng cách nơi sản xuất 1000 km của Mỹ năm 1998 là 5% với ngô thì Trung Quốc đã giảm từ 4% năm 1998 xuống 3% năm 2000. Tương tự, đậu giảm từ 10% xuống 3,5% (Mỹ 3,5%), và gạo giảm từ 10% xuống 7% (Mỹ 8%).

Hà Lan là một nước nhỏ, diện tích và dân số chỉ bằng vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng có tới 2800 km đường sắt, 110.000 km đường bộ, trong đó có 2400 km đường cao tốc. Đường hàng không đứng thứ 9 thế giới, với 80 hãng hàng không với 230 tuyến bay đến khắp các nước, nhờ đó hoa Hà Lan nhanh chóng chở đi khắp các chợ hoa thế giới. Đài Loan cũng xây dựng giao thông (đường sắt, đường bộ), hệ thống điện, viện nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp từ khi còn là thuộc địa. Sau độc lập, cơ sở hạ tầng thủy lợi, đường xá, thông tin, mạng điện phát triển mạnh…tạo nên lợi thế to lớn cho sản xuất nông nghiệp và đưa công nghiệp về nông thôn.

Việt Nam tuy mức thu nhập chung còn thấp nhưng giao thông tập trung phát triển vào hàng không. Hai vùng chuyên canh nông nghiệp chính của cả nước là đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên có vài ba sân bay nhưng không có hàng không chuyên dụng cho nông nghiệp, hoàn toàn không có đường sắt, hầu như không có đường cao tốc và không kết nối cảng biển trực tiếp, nông sản phải vận chuyển qua thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, các đầu tư dịch vụ hỗ trợ và hậu cần khác cho nông nghiệp cũng không tập trung ở các vùng chuyên canh nông nghiệp trên làm hạn chế lớn khả năng cạnh tranh của nông sản.

Khác với Việt Nam, Thái Lan phát triển dịch vụ phục vụ sản xuất để tạo sức cạnh tranh cho lợi thế nông nghiệp sẵn có. Trung tâm Dịch vụ xuất khẩu nông sản một cửa (POSSEC) giúp nhà xuất khẩu trái cây thủ tục hải quan, chứng nhận xuất xứ, kiểm dịch thực vật, an toàn vệ sinh, dịch vụ chiếu xạ, kho vận, đóng gói, tư vấn thị trường, luật lệ... ngay tại chỗ. Công nghiệp chế biến nông sản là ngành ưu tiên mũi nhọn được khuyến khích bởi chính sách miễn giảm thuế thu nhập, thuế kinh doanh, thuế lợi tức. Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong nông nghiệp được miễn giảm 50% thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị. FDI đầu tư vào lĩnh vực đặc biệt khó khăn và có sản phẩm xuất khẩu, được miễn hoàn toàn thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòng 5 năm.

Singapore không có ngành nông nghiệp, phải nhập toàn bộ lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong nước. Quốc gia này phát triển công nghiệp chế biến và dịch vụ kinh doanh nông sản để tạo lợi thế cạnh tranh, thu được giá trị gia tăng lớn từ nguyên liệu nhập khẩu của các nước sản xuất nông nghiệp. Công ty Wilmar International là doanh nghiệp sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới của Singapore dùng nguyên liệu của Malaysia và Đông Nam Á. Công ty Olam là nhà xuất khẩu hạt điều, hạt tiêu và cà phê hòa tan lớn nhất đóng ở Việt Nam. Công ty Wilmar của Singapore là khách hàng chính, đồng thời sở hữu 45% cổ phần của Bunge – công ty sản xuất dầu thực vật lớn nhất Việt Nam đang chiếm lĩnh thành công ngành nguyên liệu thức ăn chăn nuôi béo bở...

Ngoài vấn đề mô hình tăng trưởng, một câu hỏi khó khác cho quá trình công nghiệp hóa là lấy gì làm động lực phát triển cho điều hành của đất nước và vận động nhân dân? động lực lợi ích kinh tế của cơ chế thị trường thường được vận dụng dù nó đi kèm tâm lý ích kỷ, vụ lợi của cá nhân. Để tạo môi trường ổn định, xác lập trật tự cho xã hội, người ta dùng thiết chế nhà nước để cân đối lại, mặc dù giải pháp động lực này cũng gây ra tâm lý thụ động, hạn chế khả năng làm chủ và sáng tạo của người dân trong khi tạo nguy cơ tham nhũng, lãng phí. Mối quan hệ cộng đồng là giải pháp trung gian quan trọng đóng vai trò tái lập công bằng, gìn giữ giá trị đa dạng của cuộc sống con người. Điều thú vị là nếu huy động được sức mạnh cộng đồng thì người dân sẽtrở thành chủ thể thực sự của quá trình phát triển.

Ở Singapore, Lý Quang Diệu chủ trương tạo ra của cải và dịch vụ cho mỗi gia đình làm chỗ dựa và sự ràng buộc chắc chắn với sự thịnh vượng và tương lai đất nước. Giải pháp là phát huy trách nhiệm người đứng đầu gia đình để cho mỗi công dân gắn bó, có trách nhiệm với quốc gia, có ý thức làm chủ. Chính phủ chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho họ thực hiện trách nhiệm tạo lập nhà cửa, lương hưu và chăm sóc sức khỏe. Công cụ của Singapore là Quĩ Tiết kiệm Trung ương thu từ lương lao động để đóng quĩ nhà ở, chăm sóc y tế và lương hưu, sau đó khuyến khích đầu tư kinh doanh và sản xuất. Nhờ thu hút thành công nội lực toàn dân kinh tế, Singapore tăng trưởng đều đặn suốt 30 năm, trở thành quốc gia công nghiệp với mức phúc lợi và công bằng xã hội cao nhất thế giới.

Ở Hàn Quốc, Park Chung Hee cho rằng nông thôn bị kìm hãm bởi chính tư duy thụ động, và ỷ lại của nông dân. Nếu làm cho họ tin tưởng, làm việc chăm chỉ, chủ động và đoàn kết thì nông thôn sẽ thịnh vượng. Giải pháp là giúp nông dân thành lập tổ chức cộng đồng, bầu ra thủ lĩnh để tự quản phát triển nông nghiệp, nông thôn. Chính phủ chỉ tạo điều kiện giúp nông dân bằng Chương trình Làng mới. Nhà nước hỗ trợ vật tư, tiền vốn, hướng dẫn kỹ thuật để nông dân xây dựng các công trình phục vụ đời sống gia đình, phục vụ công cộng và nâng cao thu nhập. Cộng đồng tự đóng góp công sức, tiền của, ra quyết định, điều hành, nghiệm thu, sử dụng. Làng nào làm tốt mới được hỗ trợ tiếp, kết quả được đánh giá công khai. Kết quả là sau 8 năm, cơ sở hạ tầng nông thôn được xây dựng hoàn tất. Sau 6 năm thu nhập nông thôn tăng 3 lần, bằng mức trung bình cư dân thành phố.

Mấu chốt của giải pháp cộng đồng là hình thành được tổ chức của nông dân. Đài Loan có Nông hội, Nhật Bản là Liên hiệp hợp tác xã và Hàn Quốc là Liên đoàn hợp tác xã… do nông dân trực tiếp bầu ra (Đài Loan trợ cấp 50% vốn và giao cho Nông hội quản lý nhiều khỏan đầu tư cho nông thôn, kinh phí khuyến nông của Nông hội được nhà nước giúp ban đầu 70% về sau giảm còn 32%). Về chính trị, họ là đại diện chính thức của nông dân để Nhà nước tiến hành các chương trình đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, xóa đói giảm nghèo. Hội đồng quản trị từ cơ sở đến trung ương đều do nông dân bầu, giám đốc điều hành do Hội đồng tuyển và hợp đồng, bảo vệ và phản ánh quyền lợi của nhân dân. 

Về kinh tế, hợp tác xã và nông hội đảm nhiệm toàn bộ vai trò buôn bán và xuất nhập khẩu vật tư nông nghiệp đầu vào và sản phẩm đầu ra của sản xuất nông nghiệp, nắm giữ các ngân hàng, doanh nghiệp, chợ bán buôn, sở hữu kho tàng bến bãi chính,... Ở Đài Loan cung cấp 40% tín dụng cho nông dân, là tổ chức độc quyền mua bán, dự trữ nông sản chính và phân phối phân bón, vật tư nông nghiệp cho nông dân. Gần 50% chợ bán buôn nông sản, 62% chợ thủy sản do kinh tế hợp tác của nông dân nắm giữ. Ở Nhật Bản, HTX nông nghiệp cung ứng vật tư nông nghiệp, tín dụng, tiêu thụ sản phẩm, sử dụng máy móc thiết bị, ngày nay bao trùm cả các lĩnh vực phúc lợi xã hội như giáo dục, văn hóa, cải thiện điều kiện sống, du lịch, bảo hiểm. Hợp tác xã tiêu thụ trên 90% gạo, rau; hoa quả, sữa tươi, thịt bò trên 50%.

Tóm lại, trên thế giới chỉ có dăm ba nền kinh tế công nghiệp hóa thành công từ sau năm 1945. Trong nhiều yếu tố dẫn đến kết quả tốt đẹp đó, có vai trò quan trọng của việc ưu tiên tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp trong giai đoạn đầu, việc áp dụng một mô hình phát triển bao trùm. Một nền kinh tế mà cơ sở hạ tầng, nhất là đừơng sắt, đường cao tốc được xây dựng để thu hút đầu tư công nghiệp và phát triển đô thị đến mọi miền nông thôn. Lao động nông thôn rời khỏi sản xuất nông nghiệp có thể chuyển sang sản xuất phi nông nghiệp ngay tại quê nhà.

Một khi 70 - 80% dân số sống ở nông thôn được hưởng lợi ích của quá trình công nghiệp hóa, có việc làm phi nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp phát triển thì thu nhập của nông thôn sẽ nâng lên mức xấp xỉ thu nhập của đô thị. Với sức dân và trí tuệ của cả nước lớn mạnh thì quá trình phát triển nông thôn cả về cơ sở hạ tầng dẫn dịch vụ kỹ thuật sẽ diễn ra một cách tự nhiên với chất lượng cao. Nông thôn bao la sẽ trở thành thị trường to lớn để thúc đẩy công nghiệp phát triển. Không còn hiện tượng di cư, các thành phố tăng trưởng hiệu quả với quy mô hợp lý, tiết kiệm được đầu tư công và xóa bỏ được các mâu thuẫn xã hội, cải thiện môi trường sống cả nước.

Đây là điểm mấu chốt tạo nên sự thành công của các quốc gia áp dụng mô hình phát triển bao trùm. Việt Nam là một nước có lợi thế về nông nghiệp có điều kiện để xây dựng nên lợi thế cạnh tranh của mình bằng đầu tư vào dịch vụ như Singapore, đầu tư vào khoa học công nghệ như Hà Lan, đầu tư và công nghiệp chế biến như Thái Lan, v.v để thực sự trở thành một cường quốc nông nghiệp.

Tóm lại, thực tế phát triển kinh tế của các quốc gia thành công trên thế giới và và thực tiễn Việt Nam cho thấy trong điều kiện ngày nay rõ ràng có các giải pháp chiến lược và mô hình phát triển để một nước nông nghiệp tiến hành công nghiệp hóa thành công. Với những quốc gia có lợi thế nông nghiệp như Việt Nam, nếu có quyết tâm chính trị trong sáng và định hướng đường lối đúng qui luật thì có thể tạo ra bước đột phá về phát triển nông nghiệp nông thôn và nông dân làm nền tảng tích lũy công nghiệp hóa.

 


1 Richard Pomfret năm 1992.