Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động đối ngoại và nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế đối ngoại của tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐỘC LẬP

Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động đối ngoại

và nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế đối ngoại của tỉnh Thanh Hóa
đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045

 Nguyễn Hoàng Long, Cục trưởng Cục Đối ngoại, Bộ Ngoại giao

 

MỞ ĐẦU

Trong thời gian qua, công tác đối ngoại đã được triển khai đồng bộ, hiệu quả, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Công tác đối ngoại địa phương đã được triển khai chủ động, tích cực, có trọng tâm, trọng điểm.

Đối với tỉnh Thanh Hóa, những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội vượt bậc trong những năm qua có sự đóng góp của công tác đối ngoại chủ động, tích cực, thông qua việc duy trì và thiết lập các mối quan hệ hợp tác hữu nghị với các đối tác trên thế giới, củng cố môi trường quốc tế thuận lợi phục vụ phát triển kinh tế xã hội, quảng bá hình ảnh và môi trường đầu tư, kinh doanh địa phương, thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy thương mại quốc tế của tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nêu trên, công tác đối ngoại của tỉnh Thanh Hóa vẫn còn những hạn chế, bất cập, kết quả của công tác còn chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương.

Báo cáo chuyên đề này sẽ tập trung đánh giá các thành tựu cũng như những mặt hạn chế của công tác đối ngoại và kinh tế đối ngoại của tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2011-2019. Trên cơ sở phân tích nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó, báo cáo sẽ kiến nghị các biện pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hoạt động kinh tế đối ngoại của Tỉnh trong thời gian tới.

I. Công tác đối ngoại và kinh tế đối ngoại của Tỉnh giai đoạn 2011-2019

1. Bối cảnh quốc tế

          Trong những năm qua, tuy toàn cầu hóa và liên kết kinh tế vẫn tiếp tục tiến triển, hòa bình và tăng cường hợp tác để giải quyết các quan tâm chung vẫn là xu thế chủ đạo, tình hình thế giới và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có nhiều diễn biến nhanh, ngày càng phức tạp, khó lường. Sự điều chỉnh chính sách và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là căng thẳng Mỹ - Trung đang tác động nhiều mặt đến cục diện quốc tế và xu thế chính sách của các quốc gia. Trong bối cảnh đó, ASEAN và Việt Nam, như một điểm sáng, vẫn tiếp tục nhận được sự quan tâm, coi trọng của các trung tâm quyền lực trên thế giới.

 Kinh tế thế giới đầu thế kỷ XXI vận động nhanh, một số mô hình và nội hàm liên kết mới nổi lên ngày càng rõ nét, nhất là xu hướng ký kết các hiệp định tự do thương mại khu vực. Nhưng bên cạnh đó, các chu kỳ kinh tế có dấu hiệu rút ngắn lại với khoảng cách giữa tăng trưởng và suy thoái trở nên rất mong manh, nhiều chủ thể trở nên phức tạp và khó dự đoán hơn bao giờ hết. Giai đoạn phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008 – 2009 kéo dài hơn dự đoán, tín hiệu khả quan giai đoạn 2016-2018 sớm bị đe dọa bởi những yếu tố rủi ro xuất hiện chủ yếu từ cọ xát thượng mại giữa Mỹ và các nền kinh tế khác trên thế giới. Thêm vào đó, đại dịch covid-19 bùng phát đột ngột và lan rộng khắp thế giới đầu năm 2020 gây cú sốc lớn cho nền kinh tế toàn cầu.

Công tác hợp tác quốc tế và kinh tế đối ngoại của tỉnh Thanh Hóa cũng chịu tác động nhất định của bối cảnh chính trị - kinh tế quốc tế nêu trên.   

2. Bối cảnh trong nước

Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức nội tại của nền kinh tế cũng như những diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới, trong những năm qua quy mô và tiềm lực kinh tế nước ta tiếp tục từng bước được nâng lên, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá tích cực, từ năm 2013 kinh tế dần phục hồi, tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thường xuyên chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục tích cực hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, tạo môi trường ngày càng thuận lợi hơn cho doanh nghiệp; đẩy mạnh triển khai thực hiện các hiệp định kinh tế quốc tế đã có, đàm phán ký kết các hiệp định mới nhằm mở rộng thị trường, thúc đẩy sản xuất trong nước, nỗ lực phấn đấu cao nhất để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra.

Trong giai đoạn 2011-2019, tỉnh Thanh Hóa luôn duy trì được an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Về kinh tế, tỉnh đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao (năm 2017 tăng trưởng thấp nhất vẫn đạt 8,26%; năm 2019 đạt mức kỷ lục 17,15%); công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt kết quả vượt bậc. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện. Trong giai đoạn 2011-2019, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Tỉnh luôn ở mức tốt và khá. Đáng chú ý năm 2013, Thanh Hóa từng vươn lên xếp hạng 8 toàn quốc và nhiều năm qua duy trì vị trí số 1 tại vùng Duyên hải Miền Trung. Bên cạnh đó, các hoạt động xúc tiến đầu tư, hợp tác quốc tế được Tỉnh quan tâm tăng cường.

Trong bối cảnh đó, công tác đối ngoại tỉnh Thanh Hóa đã được triển khai đồng bộ, các mối quan hệ quốc tế được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, vừa phục vụ mục tiêu chung duy trì môi trường hòa bình, ổn định phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa mở ra không ít cơ hội mới thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế của địa phương.

3. Những thành tựu đã đạt được

Triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2014 của Bộ chính trị về hội nhập quốc tế, Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 08/8/2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 và các chủ trương, chỉ đạo liên quan của Đảng và Nhà nước cũng như các Nghị quyết của Tỉnh ủy, đảng bộ và chính quyền tỉnh Thanh Hóa đã chủ động triển khai các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, đạt được những thành tựu đáng tự hào.

1.1. Giao lưu quốc tế được đẩy mạnh:

Trong những năm qua, Tỉnh đã chủ động cử nhiều đoàn công tác các cấp, các nghành, dưới nhiều hình thức thăm làm việc tại nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm, quảng bá địa phương, tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh tế - văn hóa – du lịch – lao động, thu hút đầu tư nước ngoài. Về tổng thể, công tác quản lý đoàn ra được quản lý ngày càng chặt chẽ và ngày càng đi vào nề nếp, đảm bảo mục tiêu nêu trên, thúc đẩy hiệu quả quan hệ hữu nghị hợp tác giữa tỉnh Thanh Hóa với các đối tác nước ngoài. Từ dó, hình ảnh và uy tín của Tỉnh ngày càng được nâng cao, thu hút quan tâm ngày càng cao của các đối tác quốc tế, thể hiện rõ qua số các đoàn quốc tế tới thăm làm việc tại Tỉnh cũng như chỉ số tăng trưởng về đầu tư trực tiếp (FDI), ODA… thu hút tới Thanh Hóa.

Đơn cử năm 2019, số đoàn ra của Thanh Hóa tăng 29% (379 đoàn) và số đoàn vào tăng 15,2% (166 đoàn).

Bên cạnh đó, tỉnh Thanh Hóa cũng tận dụng tốt những cơ hội tiếp xúc với các đối tác quốc tế bên bên lề các sự kiến lớn tại Việt Nam. Ví dụ, bên lề Tuần lễ cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) 2017 tại Đà Nẵng, Đoàn đại biểu của Tỉnh đã có các cuộc làm việc hữu ích với Ngân hàng thế giới (WB), Liên đoàn các ngành công nghiệp Thái Lan cũng như nhiều đối tác tiềm năng khác.

1.2. Ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế được tăng cường:

Nhằm tăng cường và cụ thể hóa quan hệ hợp tác với các đối tác nước ngoài (các địa phương, các hiệp hội doanh nghiệp…), tỉnh Thanh Hóa đã đàm phán, ký kết và triển khai nhiều thỏa thuận quốc tế với các đối tác quan trọng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Nga, Lào… Trong ba năm gần đây (2017-2019), tỉnh Thanh Hóa tích cực trao đổi, đàm phán đã ký kết 66 thỏa thuận quốc tế trên nhiều lĩnh vực với các đối tác quốc tế, trong đó đáng chú ý là các đối tác quan trọng như Lào, Liên Bang Nga, Hàn Quốc.

 Riêng năm 2019, các cơ quan, đơn vị tỉnh Thanh Hóa đã ký kết 22 Bản ghi nhớ hợp tác và các hình thức thỏa thuận quốc tế khác với các đối tác nước ngoài, trong đó có 5 văn bản do Lãnh đạo tỉnh trực tiếp ký kết. 1.3. Hợp tác kinh tế quốc tế được mở rộng:

Trong nhiều năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã đẩy mạnh cải cách hành chính, nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đồng thời chủ động tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư ở trong và ngoài nước, thu hút các tổ chức, doanh nghiệp, nhà đầu tư nước tới đầu tư, hợp tác, kinh doanh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động, nâng cao mặt bằng công nghệ và kinh nghiệm quản lý trên địa bàn tỉnh[1].

Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2011-2020 ước đạt 10,8%, quy mô kinh tế của tỉnh năm 2020 ước đạt 140.432 tỷ đồng, gấp 2,8 lần năm 2010. GRDP bình quân đầu người năm 2018 đạt 1.990 USD, năm 2020 ước đạt 3.000 USD/người, gấp 3,7 lần so với mức năm 2010. FDI vào Tỉnh duy trì đà tăng trưởng cao trong nhiều năm. Đáng chú ý, mức tăng năm 2014 đạt kỷ lục 171%[2]. Tính đến nay, toàn tỉnh hiện có 111 dự án FDI đang hoạt động với tổng số vốn đăng ký 13,86 tỷ USD (tăng 109% về số dự án và 33,8% về tổng vốn đăng ký so với năm 2014), tiếp tục đứng thứ 8 cả nước về thu hút FDI.

Có thể khẳng định tỉnh Thanh Hóa đã làm tốt công tác kinh tế đối ngoại trong giai đoạn 2010-2019 thể hiện ở kim ngạch xuất khẩu và tổng vốn FDI tăng trưởng vượt bậc. Đó là cơ sở quan trọng cho định hướng của Tỉnh trong thời gian tới sẽ ưu tiên thu hút các dự án có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai; tập trung thu hút vào các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức cao, công nghệ thông tin; dịch vụ khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, phát triển kết cấu hạ tầng; thu hút có chọn lọc công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp năng lượng, luyện kim, hóa chất; ưu tiên phát triển các dự án có sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, các sản phẩm có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

1.4. Đưa quan hệ hợp tác với các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu:

Với Lào và các nước thành viên ASEAN

Trong khu vực Đông Nam Á, tỉnh Thanh Hóa có quan hệ hợp tác kinh tế nổi bật với Lào, đặc biệt là với tỉnh Hủa Phăn. Hai địa phương chia sẻ mối quan hệ hợp tác toàn diện và sự gán bó, tin cậy được xây đắp trong nhiều năm. Trên cơ sở Thỏa thuận hợp tác toàn diện giai đoạn 2016-2020 và Thỏa thuận hợp tác kinh tế-xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2019, hai bên duy trì thường xuyên các hoạt động trao đổi đoàn. Quan hệ thương mại giữa hai tỉnh có những bước phát triển mạnh mẽ, ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả. Hiện nay, tỉnh Thanh Hóa có 13 doanh nghiệp đang hoạt động xuất - nhập khẩu sang tỉnh Hủa Phăn[3]

Với các nước Đông Nam Á -Nam Á khác, Tỉnh đã bắt đầu xúc tiến quan hệ với một số đối tác tiềm năng như Thái Lan, Singapore, Ấn Độ… Năm 2016, Thanh Hóa đã gửi ấn phẩm tài liệu tham gia trưng bày triển lãm về công nghệ thông tin và truyền thông Communic Asia 2016 tại Singapore để giới thiệu, quảng bá, xúc tiến đầu tư vào các khu công nghệ cao, khu công nghệ tập trung tập trung của tỉnh[4].

Quan hệ hợp tác giữa tỉnh Thanh Hóa với các đối tác khu vực Đông Bắc Á, nhất là Nhật Bản, Hàn Quốc thời gian qua đã phát triển tích cực, thực chất hơn.

Với Nhật Bản:

Quan hệ hợp tác giữa tỉnh Thanh Hóa với các đối tác Nhật Bản chủ yếu là quan hệ đầu tư (FDI) và hợp tác phát triển (ODA). Về FDI, Nhật Bản hiện là quốc gia đầu tư lớn nhất tại Thanh Hóa. Các dự án có vốn đầu tư từ Nhật Bản tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo như: lọc hóa dầu, sản xuất xi măng, sản xuất điện, may mặc, kết cấu thép... Bên cạnh đó, UBND tỉnh Thanh Hóa đang hợp tác với Đại học Việt Nhật (Đại học Quốc gia Hà Nội) để thực hiện một số nhiệm vụ, về nghiên cứu, tư vấn, hỗ trợ công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực, xúc tiến đầu tư .

Với Hàn Quốc

Tỉnh Thanh Hóa đã thiết lập quan hệ hợp tác với thành phố Seongnam, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc năm 2013; ký kết thỏa thuận hợp tác với thành phố Gapyoung năm 2019; thường xuyên duy trì tiếp xúc với Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA); đã trao đổi kinh nghiệm xây dựng thành phố thông minh với Trung tâm điều hành của thành phố thương mại Incheon...

Về FDI, tính đến tháng 5/2019, tỉnh Thanh Hóa có 22 dự án FDI của Hàn Quốc với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 116 triệu USD, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực may mặc; một số dự án triển khai đạt hiệu quả cao, góp phần đẩy mạnh phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, giải quyết việc làm cho người lao động và tăng thu ngân sách với địa phương. Về ODA, đến tháng 5/2019, tỉnh Thanh Hóa đã tiếp nhận 41,6 triệu USD từ Chính phủ Hàn Quốc cho các dự án phát triển toàn diện kinh tế-xã hội thành phố Thanh Hóa.

Với Trung Quốc

Quan hệ giữa tỉnh Thanh Hóa với Trung Quốc đại lục chưa nhiều, tỉnh chủ yếu tập trung thúc đẩy quan hệ với đối tác Đài Loan. Tỉnh đã làm việc với Tập đoàn khoa học kỹ thuật Hồng Hải (Foxcon, Đài Loan) tại Việt Nam để kêu gọi đầu tư dự án sản xuất, lắp ráp sản phẩm điện tử vào tỉnh Thanh Hóa; đón Đoàn công tác của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Đài Loan, kêu gọi hỗ trợ tỉnh xây dựng mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và Hiệp hội Hoa Lan Đài Loan, trao đổi về việc nghiên cứu đầu tư xây dựng Trung tâm công nghệ cao về hoa lan; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trao đổi với Ủy ban Nông nghiệp Đài Loan về hợp tác xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao tại tỉnh. Năm 2019, trong chuyến thăm làm việc tại Đài Loan dự Hội thảo "Xúc tiến đầu tư trong lĩnh vực dệt may", Lãnh đạo Tỉnh đã ký Bản ghi nhớ với Tập đoàn Hong Fu, Đài Loan đầu tư trong các dự án với trị giá gần 150 triệu USD.

Trong những năm vừa qua, tỉnh Thanh Hóa cũng chủ động mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác ở các khu vực khác trên thế giới, trong đó có những bước tiến rõ rệt với Liên bang Nga, Cộng hòa Liên bang Đức và Nhà nước Cô-oét.

Với Liên bang Nga: Tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức thành công "Hội nghị Xúc tiến Đầu tư Thương mại và Du lịch vào tỉnh Thanh Hóa tại LB Nga năm 2019" với sự tham gia của gần 200 doanh nghiệp Nga và Việt Nam trong khuôn khổ Đoàn công tác cấp cao của tỉnh sang thăm làm việc tại Nga.

Về giao lưu quốc tế, tỉnh Thanh Hóa đã ký kết thỏa thuận hợp tác với tỉnh Tula thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai tỉnh, đồng thời mở ra các cơ hội và hoạt động hợp tác giữa hai bên trong thời gian tới. Đồng thời, tỉnh Thanh Hóa cũng cho phép thành phố Sầm Sơn ký kết Biên bản hợp tác hữu nghị với Quận trung tâm của thành phố Saint Peterburg, Liên bang Nga.

Nhằm cụ thể hóa các nội dung hợp tác với các đối tác Nga, tỉnh cũng đã tổ chức Đoàn công tác sang tham dự Diễn đàn du lịch Việt Nam - Saint Petersburg (10/2019) và khai trương gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm hàng hóa tỉnh Thanh Hóa tại thành phố Matxcơva.

Với Cộng hòa Liên bang Đức: Thanh Hóa đã ký kết thỏa thuận hợp tác với bang Mittelsachen (CHLB Đức); tổ chức buổi làm việc với đại diện Văn phòng hợp tác GIZEF để trao đổi, thảo luận về các nội dung hợp tác giữa hai tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Mittelsachsen, trong đó tập trung vào các dự án hợp tác kinh tế, giáo dục, xây dựng trung tâm đào tạo tại tỉnh Thanh Hóa, xây dựng nhà máy điện năng lượng mặt trời, sản xuất vật liệu sinh khối...[5]

Với Nhà nước Cô-oét: Tỉnh đang phối hợp với các cơ quan của Nhà nước Cô-oét để xúc tiến kêu gọi đầu tư một số dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao trên địa bàn tỉnh.

1.5. Công tác vận động và quản lý viện trợ Phi chính phủ nước ngoài

Thanh Hóa nhiều năm thuộc nhóm dẫn đầu về vận động thu hút viện trợ Phi chính phủ nước ngoài (PCPNN). Hiện trên địa bàn tỉnh có 59 tổ chức PCPNN được cấp phép hoạt động và đang thực hiện 49 chương trình, dự án viện trợ. Giá trị giải ngân năm 2019 đạt hơn 7 triệu USD, tiếp cận 1,7 triệu lượt người hưởng lợi trong các chương trình xóa đói giảm nghèo, khắc phục thiên tai…

1.6. Hoạt động đối ngoại nhân dân

          Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể cấp tỉnh và Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị tỉnh Thanh Hóa tiếp tục tăng cường các hoạt động đối ngoại nhân dân, hòa bình, đoàn kết, hữu nghị với các tổ chức và nhân dân các tỉnh, thành phố thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Thanh Hóa, đặc biệt là đối với nước bạn Lào.

Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã có chủ trương "mỗi huyện chọn một bản đối diện với Bạn làm trước, sau đó triển khai ở các bản đối diện còn lại". Tiêu biểu nhất là đối ngoại nhân dân với tỉnh Hủa Phăn - Lào, với các hoạt động: thăm tặng quà, chúc mừng dịp Tết cổ truyền. Hai bên cũng tích cực hợp tác để ổn định dân cư ở các xã biên giới, khai thác hiệu quả tài nguyên đất, các nguồn lực cho đầu tư phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, xây dựng, nâng cao đời sống nhân dân, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường.

1.7. Công tác thông tin đối ngoại:

          Lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 28/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình hành động của Chính phủ về thông tin đối ngoại giai đoạn 2013-2020; Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 17/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Tăng cường công tác thông tin đối ngoại với Lào trong tình hình mới …; liên tục tổ chức các cuộc triển lãm tư liệu về "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử" tại các huyện trong tỉnh … Bên cạnh đó, các cơ quan báo chí của tỉnh đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền giới thiệu rộng rãi hình ảnh đất và con người Xứ Thanh đến bạn bè trong nước và quốc tế; quảng bá tiềm năng, lợi thế của tỉnh tới các đối tác nước ngoài (ví dụ như phối hợp với Báo Thế giới & Việt Nam đăng tải tài liệu quảng bá bằng tiếng Việt và tiếng Nhật trên Đặc san Việt Nam - Nhật Bản năm 2018).

1.8. Các mặt công tác khác:

          Các công tác quảng lý biên giới lãnh thổ; lãnh sự và bảo hộ công dân được chỉ đạo phối hợp thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo chủ quyền, lãnh thổ, trật tự an toàn xã hội và quyền lợi hợp pháp của công dân của tỉnh ở nước ngoài cũng như công dân nước ngoài tại tỉnh.

Đối với các công tác tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế; ngoại giao văn hóa; người Việt Nam ở nước ngoài, UBND tỉnh Thanh Hóa đều chỉ đạo các Sở, ngành liên quan phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tổ chức tốt, nội dung đổi mới, nội dung phong phú nhằm quảng bá hình ảnh tỉnh và con người Thanh Hóa, kết nối đồng bào ở nước ngoài, chọn lọc tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới.        

2. Những hạn chế, khó khăn và nguyên nhân:

Bên cạnh những thành công đã đạt được, việc triển khai công tác đối ngoại của tỉnh Thanh Hóa vẫn gặp một số khó khăn nhất định, cụ thể:

- Việc triển khai và tổ chức thực hiện Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại trên địa bàn tỉnh còn gặp một số khó khăn, bất cập; tính chủ động trong việc xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động đối ngoại của một số cơ quan đơn vị còn chưa đồng bộ và chưa đạt được hiệu quả cao nhất.

- Tăng trưởng kinh tế chưa đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, chất lượng tăng trưởng chưa cao, môi trường đầu tư kinh doanh tuy đã có cải thiện nhưng chưa thực sự thông thoáng, hấp dẫn; việc phát triển liên kết vùng chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Ngoài những dự án đầu tư nước ngoài có quy mô lớn, chủ yếu tập trung tại khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp, các dự án còn lại đa số thuộc lĩnh vực may mặc, chưa thu hút được nhiều những dự án công nghệ cao trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế tạo, sản xuất hóa chất, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu; Công tác thu hút đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với thế mạnh nhu và cầu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.

- Công tác xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách đối ngoại chưa có sự đồng nhất tại các sở, ban, ngành do nhân sự còn hạn chế, trình độ ngoại ngữ, năng lực chuyên môn chưa đáp ứng hoàn toàn các nhu cầu công việc ngày càng cao trong tiến trình hội nhập quốc tế của tỉnh. Ngoài ra, đầu tư nguồn lực và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đối ngoại của địa phương còn chưa bắt kịp với thực tiễn triển khai.

- Nguồn lao động của tỉnh dồi dào nhưng trình độ, chất lượng nguồn lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo và tỷ lệ lao động tay nghề cao còn thấp nên chưa đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao của nhà đầu tư nước ngoài.

Có thể điểm ra một số nguyên nhân chính của những hạn chế, khó khăn ấy như sau:

- Các quy định, chỉ đạo trong công tác đối ngoại còn thiếu linh hoạt, chưa theo kịp yêu cầu đa dạng của thực tiễn.

- Tính chủ động trong công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế, nhất là kết hợp giữa hoạt động đối ngoại với kinh tế đối ngoại và xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch chưa cao.

- Xuất phát điểm nền kinh tế của tỉnh thấp, vị trí địa lý xa các vùng kinh tế động lực của cả nước; điều kiện hạ tầng giao thông kết nối với các trung tâm lớn của đất nước như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn khác chưa  thuận tiện. Tỉnh không có sân bay và kết nối với sân bay gần nhất là sân bay Vinh vẫn chưa thuận tiện. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng các Khu công nghiệp và các Khu Kinh tế còn chậm, chưa tạo được sự hấp dẫn về thị trường và môi trường đầu tư.

- Tình hình chính trị, kinh tế thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, thương mại. Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt chi tiêu công, ảnh hưởng đến nhiều chương trình, dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từ nguồn vốn ngân sách Trung ương.

- Công tác xúc tiến đầu tư chưa thu hút được nhiều dự án lớn trọng điểm có sức lan tỏa cao; tiến độ triển khai thực hiện một số thỏa thuận hợp tác quốc tế đã ký kết còn chậm, hiệu quả chưa cao.

- Công tác đối ngoại ở một số địa phương chưa tập trung, chưa chú ý cập nhật, triển khai các thỏa thuận, hợp tác, ghi nhớ đầu tư; chưa xây dựng được chương trình đề án có tính chiến lược lâu dài để tham mưu cho Tỉnh uỷ để công tác đối ngoại dài hạn, căn cơ, bài bản…[6]

II. Đề xuất giải pháp mở rộng hoạt động đối ngoại và nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế đối ngoại của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2020-2030, tầm nhìn đến 2045

          Để các đề xuất giải pháp được thực chất, ta cần nắm bắt sát xu thế chuyển biến của tình hình thế giới và khu vực, cũng như của nền kinh tế Việt Nam trong quãng thời gian nghiên cứu, đồng thời xác định rõ những mục tiêu phát triển nói chung và những mục tiêu đối ngoại và kinh tế đối ngoại nói riêng của tỉnh Thanh Hóa trong 10 năm tới.

1. Dự báo bối cảnh quốc tế có tác động thời gian tới:

Trong 10 năm tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn và là nguyện vọng của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng phức tạp. Đặc biệt, cạnh tranh nước lớn tiếp tục gia tăng, mở rộng từ thương mại ra nhiều lĩnh vực khác, kéo theo gia tăng sức ép từ đối với các nước vừa và nhỏ. Châu Á và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sẽ tiếp tục là khu vực quan trọng hàng đầu trong ưu tiên chiến lược của các nước lớn. ASEAN tiếp tục xây dựng Cộng đồng, nỗ lực duy trì vai trò trung tâm, thúc đẩy các cơ chế cho ASEAN dẫn dắt như ARF, EAS, ADMM+, RCEP…, thu hút sự quan tâm của các nước lớn. Cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn tại khu vực cũng sẽ là một nhân tố làm tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp trong thời gian tới.

Nhiều nghiên cứu dự báo rằng kinh tế thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng chậm lại và đối mặt với nhiều rủi ro và chỉ ra"4 đám mây đen" đe dọa triển vọng kinh tế thế giới: (i) chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, (ii) chính sách thắt chặt tiền tệ - tài khóa của nhiều nước, (iii) chủ nghĩa dân túy và bảo hộ, và (iv) sự giảm tốc của kinh tế của một số nền kinh tế lớn. Đáng chú ý, do quy mô rộng và diễn biến phức tạp của đại dịch covid-19, trong ngắn hạn trước mắt kinh tế ở nhiều quốc gia (trước hết là các nước dịch bùng phát mạnh) sẽ bị ảnh hưởng và chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ bị gián đoạn. Nhiều dự đoán cho rằng mức độ tác động về mặt kinh tế của dịch COVID-19 gây ra có thể tương đương hoặc lớn hơn các cuộc khủng hoảng trước đây. Tuy nhiên, cũng có kịch bản lạc quan[7] cho rằng dấu hiệu phục hồi kinh tế thế giới sẽ bắt đầu từ nửa cuối năm 2020 và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ cho năm 2021; với sự tăng trưởng mạnh ở hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc. Trong bất cứ kịch bản nào, nhận định chung là đại dịch covid-19 đã tạo sức ép mạnh đẩy tiến trình toàn cầu hóa sang một giai đoạn mới, thay đổi về khuynh hướng, cơ cấu và cách thức vận động; nhân tố khoa học công nghệ (kinh tế số, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo…) trở nên thiết yếu. Chuyển biến này đem tới nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức mới. Ngoài ra, tình hình giá dầu thế giới giảm mạnh đầu Quý III/2020 và có xu hướng dao động thất thường ở mức thấp trong trung hạn cũng là nhân tố cần lưu ý trong công tác hoạch định chính sách kinh tế (nhất là với địa phương có cơ sở hóa lọc dầu như Thanh Hóa).

Do nhận thức được những nguy cơ nêu trên, trong thời gian tới, có cơ sở để tin  rằng nhiều quốc gia và phong trào tiến bộ sẽ hợp sức tiếp tục thúc đẩy liên kết kinh tế (thúc đẩy đàm phán, ký kết và triển khai các FTA), thúc đẩy các chính sách nới lỏng tiền tệ và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và trang bị các kỹ năng cần thiết cho người lao động nhằm đáp ứng đồi hỏi của CMCN 4.0.

Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng. Thời gian từ nay tới năm 2030 sẽ là giai đoạn ta đi vào triển khai, thực hiện và hoàn tất cả các các hiệp định thương mại  tự do thương mại song phương và đa phương thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, v.v…. Đây là các cam kết có khả năng tác động sâu rộng tới việc hoàn thiện thể chế, pháp luật trong nước, cũng như tới quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam với các nước lớn và đối tác.

2. Thách thức và cơ hội:

Tình hình trong nước và quốc tế như trên hàm chứa cả cơ hội và thách thức đối với công tác đối ngoại và kinh tế đối ngoại của tỉnh Thanh Hóa. Cơ hội tới từ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước dành cho tỉnh Thanh Hóa, từ vị thế và uy tín mà Tỉnh đã tích lũy được trong những năm qua, cũng như lợi thế địa chính trị mà ASEAN và Việt Nam đang có. Ở một chiều khác, áp lực cạnh tranh gay gắt hơn và nguy cơ tổn thương cũng hiện hữu hơn trong bối cảnh nước ta hội nhập sâu hơn vào khu vực và thế giới là thách thức không nhỏ đối với Tỉnh, đòi hỏi Tỉnh phải chuyển đổi mạnh mẽ cách nghĩ, cách quản lý, quy hoạch sản xuất kinh doanh theo hướng "chủ động nắm bắt cơ hội, tích cực tham gia hội nhập", tiếp cận liên ngành, chú trọng phát triển bền vững, các vấn đề xã hội, môi trường.

3. Mục tiêu đối ngoại và kinh tế đối ngoại của tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới

Nghị quyết số 22-NQ/TW, của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế khẳng định vai trò của chính quyền địa phương là chủ thể trực tiếp thực hiện quá trình hội nhập quốc tế tại địa phương. Nghị quyết số 06-NQ/TW năm 2016 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nêu rõ: "Các địa phương chủ động phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tổ chức các chương trình văn hóa tại địa phương mình hoặc ở nước ngoài nhằm giới thiệu, quảng bá những nét văn hoá độc đáo của địa phương; đồng thời chủ động mở rộng hợp tác với các địa phương trên thế giới".

Quyết định 1629/QĐ-TTg năm 2019 về phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Thủ tướng Chính phủ ban hành đã vạch ra mục tiêu quy hoạch của tỉnh Thanh Hóa: "Phấn đấu đến năm 2030, Thanh Hóa trở thành tỉnh công nghiệp, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, từng bước hiện đại; phù hợp với tình hình thực tế và xu thế phát triển của vùng, quốc gia, khu vực ASEAN và quốc tế".

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa khóa XVIII tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX nhiệm kỳ 2020-2025 cũng nêu trong Phương hướng phát triển chung của Tỉnh: "…phát triển kinh tế nhanh và bền vững trên cơ sở tập trung phát triển 4 trung tâm kinh tế động lực, 5 trụ cột tăng trưởng, 6 hành lang kinh tế và 6 vùng liên huyện; tiếp tục coi phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới là nền tảng, công nghiệp là then chốt, dịch vụ là quan trọng; tăng cường ứng dụng và chuyến giao các tiến bộ khoa học công nghệ;… phấn đấu đến năm 2025 trong nhóm các tỉnh dẫn đầu cả nước, đến năm 2030 trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại".

Trên cơ sở đó, các mục tiêu đối với công tác đối ngoại và kinh tế đối ngoại có thể xác định như sau:

1. Quán triệt Quy chế của Bộ Chính trị về quản lý thống nhất hoạt động đối ngoại, trong đó chú trọng nâng cao hiệu quả công tác quản lý đoàn ra, đoàn vào, bảo đảm hiệu quả, thiết thực, tiết kiệm;

2. Tiếp tục kiện toàn bộ máy triển khai công tác đối ngoại và kinh tế đối ngoại; nâng cao chất lượng cán bộ và nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn trong các lĩnh vực nghiệp liên quan

3. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế phục vụ phát triển bền vững của địa phương, đặc biệt là về kinh tế, thương mại, đầu tư.

4. Nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại và tuyên truyền nội bộ về công tác đối ngoại và kinh tế đối ngoại của Tỉnh.

5. Hiệu quả công tác xúc tiến kêu gọi viện trợ phi chính phủ nước ngoài chú trọng khu vực miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng bị thiên tai; 

6. Làm tốt công tác bảo hộ công dân trên địa bàn tỉnh, công tác người Việt Nam ở nước ngoài và công tác biên giới lãnh thổ.

4. Các giải pháp nhằm đạt được các mục tiêu

4.1. Đổi mới tư duy và nhận thức đúng đắn về quan hệ hữu cơ giữa hợp tác quốc tế, hội nhập và phát triển.

Các cấp, các ngành cần tích cực đổi mới tư duy về hội nhập quốc tế phục vụ phát triển; quán triệt đường lối đối ngoại về hội nhập quốc tế mà Đại hội Đảng XII đã đúc kết, trong đó nêu rõ hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm; nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của hợp tác quốc tế đối với phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong thời kỳ mới. Cần khuyến khích và lan tỏa "tư duy toàn cầu" từ cấp lãnh đạo cao nhất tới các cấp làm việc để nắm và hiểu những thay đổi của xu thế quốc tế, khu vực, của các đối tác nước ngoài và thực tiễn hội nhập quốc tế của đất nước và chính địa phương mình.

Đặc biệt, cần quán triệt và có cơ chế tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các Sở, Ban ngành của tỉnh trong việc nghiên cứu, tham mưu, đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể trong kế hoạch đối ngoại định kỳ của địa phương.

4.2. Kiện toàn thể chế, chính sách liên quan đến công tác đối ngoại và kinh tế đối ngoại theo hướng thống nhất, hiệu quả.   

Tỉnh cần tiếp tục đẩy mạnh tập trung rà soát, đánh giá lại để hoàn thiện quy chế quản lý thống nhất về đối ngoại và hội nhập quốc tế; đảm bảo chặt chẽ theo đúng các quy định pháp luật nhưng quán triệt đầy đủ tinh thần chỉ đạo là tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đối ngoại, thu hút đầu tư có chọn lọc để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội. Cụ thể, UBND tỉnh cần tích cực nghiên cứu để cập nhật Quy chế thống nhất hoạt động đối ngoại của địa phương mình trên cơ sở các chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Quyết định 272-QĐ/TW ngày 21/01/2015 về việc ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại (Quy chế 272) và Kết luận 33-KL/TW ngày 25/7/2018 về tiếp tục thực hiện Quy chế 272 (Kết luận 33); tổ chức phổ biến rộng và tập huấn sâu Hướng dẫn số 05-HD/BĐNTW thực hiện Quy chế 272 và Kết luận 33 ban hành ngày 26/3/2019. Mục tiêu xuyên suốt là bảo đảm quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại trong toàn hệ thống chính trị, kết hợp hài hòa giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, tạo sức mạnh và hiệu quả trong triển khai đối ngoại của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

4.3. Đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính phục vụ kinh tế đối ngoại

Trên cơ sở của Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 của Chính phủ và Chỉ thị 13/CT-TTg ngày 10/6/2015, trong thời gian tới, công tác hành chính của Tỉnh cần phải được rà soát thường xuyên về tính hợp pháp, hợp lý và hiệu quả, đồng thời đẩy nhanh tối đa thực thi phương án đơn giản hóa thủ tục, loại bỏ những quy trình rườm rà (đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt) để giảm chi phí và rút ngắn thời gian giải quyết, kết quả nhanh và kịp thời. Tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết thủ tục hành chính.

Tiếp tục thực hiện tốt cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" và các quy chế, quy định phối hợp; thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan hành chính các cấp, phổ biến rộng rãi và niêm yết công khai tại công sở các quy chế, quy trình và các thủ tục hành chính... để doanh nghiệp biết, thực hiện và giám sát; đồng thời phải cập nhật kịp thời khi có thay đổi.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng quy trình giải quyết thủ tục hành chính nội bộ, bảo đảm nhanh, gọn, khoa học, thuận tiện, rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cho cá nhân, tổ chức.

Để hoàn thiện chất lượng công tác hành chính, Tỉnh cần tích cực tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức nước ngoài và chủ động nghiên cứu để rút kinh nghiệm và tham mưu cấp có thẩm quyền nhanh chóng có hướng xử lý thỏa đáng.

4.4. Tích cực, chủ động mở rộng kết nối và hợp tác quốc tế:

- Tích cực tham gia các hoạt động đối ngoại cấp cao trong và ngoài nước (tháp tùng Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội trong các chuyến thăm nước ngoài hoặc trong các cuộc tiếp tân trong nước).

- Chủ động, tích cực, làm sâu sắc, thực chất hơn quan hệ với các đối tác đã thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác; cởi mở tiếp xúc kết nối, sẵn sàng hợp tác với các đối tác là địa phương, hiệp hội doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, các cơ sở giáo dục, tổ chức phát triển… nước ngoài.

- Coi trọng việc tham gia các sự kiện đối ngoại, các sự kiện giao lưu kinh tế - văn hóa quốc tế tại Việt Nam hoặc các sự kiện bên lề các sự kiện quốc tế lớn mà Việt Nam đăng cai.

- Mạnh dạn tham gia các diễn đàn đối ngoại đa phương cấp địa phương;

4.5. Tiếp tục tích cực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và cải tiến chính sách thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại quốc tế:

-  Về đầu tư, bên cạnh việc nghiên cứu xây dựng chính sách ưu đãi tổng thể và thống nhất trong tranh thủ nguồn vốn FDI, công nghệ, kinh nghiệm của nước ngoài, Tỉnh cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng mới danh mục các dự án và lĩnh vực thu hút FDI trọng điểm, đồng thời tăng cường công tác thẩm định và quản lý, giám sát dự án.

Tăng cường nghiên cứu để có đề xuất chính sách có khả năng tạo động lực mới cho thu hút và sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài vào lĩnh vực kinh tế trọng điểm của tỉnh, bao gồm cả những chính sách ưu đãi về thuế thu nhập, thuế đất, xuất nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện… cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Chủ động và thường xuyên cung cấp thông tin về các văn bản pháp lý, chính sách ưu đãi trong lĩnh vực môi trường, tình hình hợp tác công - tư cho nhà đầu tư nước ngoài, để họ có thể dễ dàng trao đổi về pháp lý và nghiên cứu sâu trước khi tiến hành đàm phán hợp tác. Thiết lập các kênh liên lạc hiệu quả, ổn định giữa các nhà đầu tư với lãnh đạo Tỉnh, lãnh đạo các sở, ngành.

Tiếp tục đẩy mạnh kiện toàn hệ thống hạ tầng giao thông, đô thị, hạ tầng kinh tế. Bên cạnh đó, thúc đẩy quy hoạch hiệu quả và hỗ trợ tối đa công tác giải phóng mặt bằng để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu "đất sạch" cho các nhà đầu tư nước ngoài.

- Về thương mại, Tỉnh cần phối hợp với các cơ quan trung ương hữu quan và các viện nghiên cứu có uy tín để xây dựng chính sách cho Tỉnh tranh thủ hiệu quả các FTA thế hệ mới với khu vực như CPTPP, EVFTA, VKFTA, RCEP… để vừa đẩy mạnh xuất khẩu, vừa thu hút đầu tư. Đồng thời tăng cường hợp tác với các đối tác khu vực và trên thế giới, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng thương hiệu sản phẩm để có thể mở rộng các thị trường cao cấp như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan...

- Nghiên cứu, xác định phương hướng phát triển cho các cửa khẩu biên giới trên đất liền thuộc địa bàn tỉnh, trong đó có các cửa khẩu: Na Mèo – Nậm Sôi, Tén Tằn – Xổm Vẳng, Khẹo – Thá Lấu, cũng như phương hướng nâng cấp, mở mới các cửa khẩu. Đồng thời, xem xét bổ sung thêm các hạng mục xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kết nối với tỉnh Hủa Phăn (Lào).

- Về ODA, trong bối cảnh ta đang thắt chặt kiểm soát nợ công, việc vay ODA cần tính toán ký hiệu quả thực tế và có tính chọn lọc.

4.6. Chủ động nâng cao năng lực hội nhập quốc tế của địa phương:

- Đẩy mạnh tái cơ cấu toàn diện, cải thiện năng lực cạnh tranh gắn công nghệ số;

- Tận dụng cơ hội của nền tảng kinh tế thế giới số, công nghệ cao, kịp thời đổi mới công nghệ, kiến tạo các giá trị mới cho các sản phẩm của địa phương, doanh nghiệp;

- Coi trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực, tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước để phát triển thị trường lao động đồng bộ về cả quy mô, chất lượng, cơ cấu ngành nghề đảm bảo lực lượng lao động có tay nghề và trình độ chuyên môn cao.

- Cùng với sự phát triển lớn mạnh về mọi mặt, vị thế trong nước và trên bình diện quốc tế của Tỉnh ngày càng nâng cao, chất lượng lực lượng cán bộ làm công tác đối ngoại của Tỉnh cần không ngừng được nâng cao, thông qua nâng cao chất lượng đầu vào (tuyển dụng, tuyển chọn), đào tạo, tập huấn thường xuyên.

- Nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ, năng lực của địa phương, doanh nghiệp và người dân về luật lệ, quy định, chuẩn mực của khu vực, quốc tế; tăng cường phổ biến, thông tin cho doanh nghiệp về các FTA để tận dụng cơ hội của các FTA thế hệ mới, trong đó có CPTPP, EVFTA (dự kiến có hiệu lực trong năm 2020 và có nhiều tiềm năng mở rộng thị trường xuất khẩu); chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp tìm hiểu, nắm bắt các quy định mới về sở hữu trí tuệ, bản quyền, quy tắc xuất xứ, môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với điều kiện cạnh tranh mới, giảm thiểu nguy cơ xảy ra tranh chấp thương mại; tăng cường kết nối, liên doanh, liên kết với các địa phương, doanh nghiệp của các nước để tham gia vào chuỗi giá trị, mạng sản xuất khu vực và thế giới.

4.7. Đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại:

- Bán sát sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin truyền thông, Tỉnh cần chủ động, tích cực đẩy mạnh và đa dạng hóa, đa kênh hóa công tác truyền thông đối ngoại, coi đây là một nhiệm vụ quan trọng, tạo dựng hình ảnh tỉnh Thanh Hóa phát triển năng động, bền vững trong lòng bạn bè, đối tác quốc tế.

- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các tài liệu quảng bá địa phương và xúc tiến đầu tư, kinh doanh… theo các tiêu chuẩn quốc tế bằng chính ngôn ngữ của các đối tác quan trọng và tiềm năng (tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn…) để dử dụng thường xuyên nhằm tăng cường hiệu quả các hoạt động kết nối, quảng bá, trao đổi… với đối tác nước ngoài.

- Đầu tư có chiều sâu cho các sự kiện quảng bá hình ảnh của Tỉnh cũng như các sự kiện văn hóa – du lịch có chất lượng hướng tới thu hút hiệu quả truyền thông quốc tế. Tỉnh nên phối hợp với Bộ Ngoại giao nghiên cứu, tổ chức các chuyến đi thực tế, tìm hiểu về Tỉnh cho đội ngũ phóng viên báo chí nước ngoài thường trú tại Việt Nam.

4.8. Về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN):

- Hiện nay, có khoảng 3000 doanh nghiệp của kiều bào ta đang đầu tư kinh doanh trong nước, lượng kiều hối năm 2019 đạt 17 tỷ USD (6,4% GDP). Số chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam khoảng 500 lượt người/năm (chưa bao gồm các số vào Việt Nam dự hội nghị, hội thảo và các đoàn trao đổi ngắn hạn). Đây là một nguồn lực quan trọng trong phát triển đất nước. Vì vậy, để thu hút nguồn lực kinh tế và tri thức của NVNONN, Tỉnh cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Ngoại giao và các Bộ ngành khác để kết nối vận động và tạo cơ chế thuận lợi, ưu đãi, hỗ trợ cho NVNONN đầu tư tại địa phương, đẩy mạnh cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính tạo điều kiện cho nhà đầu tư.

- Tỉnh nên có cơ chế liên lạc, phản hồi giữa Chính quyền và kiều bào đang sinh sống, làm việc và đầu tư tại địa phương để nắm rõ hơn nhu cầu thực tế của kiều bào, trên cơ sở đó có các giải pháp cơ chế, chính sách thỏa đáng.

4.9. Về công tác Ngoại giao Văn hóa:

- Di sản thế giới Thành Nhà Hồ là một trong 8 di sản thiên nhiên văn hóa Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách các di sản thế giới, Tỉnh cần bố trí nguồn lực để bảo tồn và phát huy hơn nữa danh hiệu được thế giới công nhận, góp phần nâng cao hình ảnh địa phương, thúc đẩy du lịch và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

- Đồng thời, đề nghị Tỉnh tiếp tục thực hiện Chiến lược Ngoại giao Văn hóa đến năm 2020 theo Quyết định số 208/QĐ-TTg ngày 14/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ và chuẩn bị xây dựng báo cáo tổng kết 10 năm việc thực hiện Chiến lược và xây dựng Chiến lược Ngoại giao Văn hóa 2020, tầm nhìn 2030 của địa phương. Bên cạnh đó, hàng năm, Bộ Ngoại giao tổ chức chương trình "Ngày tìm hiểu về Việt Nam" và sẽ mở rộng chương trình để giới thiệu các thông tin về đất nước, con người Việt Nam, chính sách đầu tư, pháp luật, lãnh sự,… cho các đối tượng là doanh nghiệp đầu tư tại các địa phương; "Tuần/Ngày Việt Nam ở nước ngoài", đề nghị Tỉnh xem xét phối hợp tham gia, hoặc chủ động đưa ra kiến nghị riêng cho địa phương mình để các chương trình đạt hiệu quả thiết thực; hoặc thông qua các cơ quan đại diện ở nước ngoài tăng cường tuyên truyền, quảng bá và trao đổi những kinh nghiệm bổ ích để khai thác tiềm năng du lịch tại địa phương.

4.10. Các mặt công tác khác:

          - Công tác quản lý biên giới lãnh thổ, lãnh sự, bảo hộ công dân, bảo hộ ngư dân – tàu cá… cần tiếp tục được thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đúng quy định của pháp luật, đảm bảo chủ quyền, lãnh thổ, trật tự an toàn xã hội và quyền lợi hợp pháp của công dân của tỉnh ở nước ngoài cũng như công dân nước ngoài tại tỉnh.

          - Phát huy kinh nghiệm đã có trong công tác vận động và quản lý viện trợ phi chính phủ nước ngoài (PCPNN); tiếp tục tổ chức các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với các tổ chức quốc tế, đại sứ quán các nước, các tổ chức PCPNN, các nhà tài trợ; tích cực hướng dẫn các đơn vị trong tỉnh xây dựng hồ sơ, thủ tục cho các dự án hợp tác; thường xuyên cung cấp thông tin về nhu cầu vận động viện trợ PCPNN của tỉnh bằng nhiều phương thức để chuyển tải đến các nhà tài trợ. Tuyên truyền về các mô hình, dự án thực hiện thành công tại địa phương; đồng thời làm tốt công tác kiểm tra, giám sát tiến độ, nắm bắt thông tin, tháo gỡ vướng mắc, duy trì quan hệ tốt với các tổ chức PCPNN.

          - Tạo điều kiện thúc đẩy đối ngoại nhân dân bám sát mục tiêu, đường lối, chủ trương, chính sách của đối ngoại Đảng và Nhà nước theo tinh thần: đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; hòa bình, hữu nghị hợp tác và tiến bộ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia và của địa phương.

- Quán triệt và triển khai thực hiện Quyết định 06/2020/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 21/02/2020 về việc tổ chức và quản lý Hội nghị, hội thảo quốc tế.

 


[1] Tình hình kinh tế - xã hội năm 2019, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, UBND tỉnh Thanh Hóa (12/2019).

[2] Đạt mức 765,5 tỷ đồng - số liệu tại Báo cáo Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010.

[3] Hội nhập kinh tế quốc tế ở Thanh Hóa hiện nay, Th.S. Dương Thị Bảo Anh, Trưởng khoa Xây dựng Đảng, Trường chính trị Thanh Hóa (12/2017).

[4] Hội nhập kinh tế quốc tế ở Thanh Hóa hiện nay, Th.S. Dương Thị Bảo Anh, Trưởng khoa Xây dựng Đảng, Trường chính trị Thanh Hóa (12/2017).

[5]  Hội nhập kinh tế quốc tế ở Thanh Hóa hiện nay, Th.S. Dương Thị Bảo Anh, Trưởng khoa Xây dựng Đảng, Trường chính trị Thanh Hóa (12/2017).

[6] Tổng kết công tác đối ngoại năm 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020, UBND tỉnh Thanh Hóa.

[7] Theo 1 kịch bản của viện Peterson Institute for International Economics (Mỹ) công bố tháng 3/2020.