Từ chỉ tiêu phát triển công nghiệp, nhìn lại xuất phát điểm

Nếu đối chiếu với xuất phát điểm hiện nay của ngành công nghiệp và công nghiệp chế biến - chế tạo, những chỉ tiêu mà Nghị quyết số 23-NQ/TW về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là rất tham vọng. Muốn đạt được những chỉ tiêu này, chính sách phát triển công nghiệp cần có những cải cách, đột phá nhanh chóng.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (TCTK), từ năm 2010 giá trị tăng thêm các ngành được tính theo giá cơ bản, từ năm 2010 trở về trước giá trị tăng thêm các ngành tính theo giá người sản xuất. Điều này có nghĩa là từ năm 2010 đến nay trong giá trị tăng thêm các ngành không bao gồm thuế sản phẩm. Cách tính này là đúng với chuẩn mực của Liên hiệp quốc. Tuy nhiên, để so sánh tỷ trọng các ngành công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biến - chế tạo nói riêng trong GDP với chuỗi thời gian dài hơn, bài viết này sử dụng tỷ lệ thuế sản phẩm của bảng cân đối liên ngành năm 2007 để tách thuế sản phẩm ra khỏi giá trị tăng thêm của nhóm ngành công nghiệp và công nghiệp chế biến - chế tạo.

Chuỗi số liệu từ năm 2005-2017 (12 năm) cho thấy tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp trong GDP tăng chưa được 1% và tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp chế biến - chế tạo tăng khoảng 1,2 điểm phần trăm. Riêng quí 1-2018, tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng lên xấp xỉ 30% (năm 2005 tỷ trọng này là 27,5%) và tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến - chế tạo trong GDP ở mức 15% (năm 2005 là 13,8%).

Tỷ trọng công nghiệp và công nghiệp chế biến - chế tạo trong GDP có lẽ không tăng cao được như vậy nếu tính chuẩn tắc hơn. Không thể có chuyện tăng trưởng về giá trị tăng thêm của nhóm ngành này tương đương với tăng trưởng về giá trị sản xuất (đều là 14%) khi mà chính báo cáo bằng văn bản của TCTK cho rằng tăng trưởng của nhóm ngành này có "trụ cột chính là ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính, sản phẩm quang học và sản xuất kim loại". Bởi vì, với những sản phẩm này, Việt Nam chủ yếu là gia công nên tăng trưởng về giá trị tăng thêm không thể tương đương với tăng trưởng giá trị sản xuất.

Nếu tính đúng thì tỷ trọng công nghiệp chế biến - chế tạo chiếm trong GDP chỉ khoảng 14%. Và như vậy có thể thấy trong 12 năm qua tỷ trọng công nghiệp và công nghiệp chế biến - chế tạo chiếm trong GDP chỉ loanh quanh ở mức 13-14%. Như vậy, nếu không có một chính sách đột phá nào thì 12 năm tiếp theo, tỷ trọng công nghiệp và công nghiệp chế biến - chế tạo khó lòng đạt mức như Nghị quyết số 23-NQ/TW đề ra là tỷ trọng công nghiệp chiếm trong GDP trên 40% và tỷ trọng công nghiệp chế biến - chế tạo trong GDP khoảng 30%. Bởi điều này có nghĩa trong 12 năm tới tỷ trọng công nghiệp phải tăng tới hơn 10 điểm phần trăm và tỷ trọng công nghiệp chế biến - chế tạo tăng tới hơn 15 điểm phần trăm.

Mặt khác, khi nghiên cứu về chỉ số lan tỏa và độ nhạy của nhóm ngành hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ trong hai giai đoạn 2008-2013 và 2013-2018 thông qua bảng cân đối liên ngành, có thể thấy những chỉ số này thấp hơn mức bình quân chung của nền kinh tế khá nhiều và ngày càng có xu hướng nhỏ đi. Điều này có nghĩa là hoạt động khoa học công nghệ không lan tỏa đi đâu và nền kinh tế cũng không cần đến nó.

Hơn nữa, nghiên cứu về mức độ lan tỏa của xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đến sản lượng, giá trị tăng thêm nhập khẩu và phát thải nhà kính cho thấy tuy giai đoạn 2013-2018 xuất khẩu hàng hóa của nhóm ngành công nghiệp lan tỏa đến sản lượng cao hơn giai đoạn 2008-2013 (2,1 so với 1,8) nhưng lại lan tỏa đến giá trị gia tăng thấp hơn và lan tỏa đến nhập khẩu cao hơn. Ngoài ra, xuất khẩu sản phẩm công nghiệp là nguyên nhân chính dẫn tới ô nhiễm không khí thông qua phát thải nhà kính, chiếm hơn 40% tổng lượng phát thải nhà kính từ sản xuất và tiêu dùng.

Tính toán về năng suất lao động cho toàn ngành công nghiệp và công nghiệp chế biến - chế tạo cho thấy tăng trưởng về năng suất lao động theo giá so sánh của toàn ngành công nghiệp có xu hướng giảm (thậm chí, năm 2016 tăng trưởng về năng suất lao động của toàn ngành công nghiệp còn âm hơn 2%) và năng suất của ngành chế biến - chế tạo đang giảm. Việc năng suất lao động của toàn ngành công nghiệp và công nghiệp chế biến - chế tạo giảm là một minh chứng cho thấy sản xuất công nghiệp ở Việt Nam ngày càng mang nặng tính gia công, lắp ráp. Với mức độ gia công của ngành công nghiệp và ngành công nghiệp chế biến - chế tạo như hiện nay, nếu không có hành động đột phá để cải thiện, thì chỉ tiêu đạt tăng trưởng về năng suất lao động bình quân tới 7,5% như Nghị quyết số 23-NQ/TW đề ra là không khả thi. Lưu ý rằng trong giai đoạn 2008-2016, tăng trưởng về năng suất lao động bình quân của toàn ngành công nghiệp đang âm và của ngành công nghiệp chế biến - chế tạo xấp xỉ 0.

Về chỉ tiêu "tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt bình quân trên 10%/năm", Nghị quyết số 23-NQ/TW không nói rõ đây là tốc độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm hay của giá trị sản xuất. Thông thường, tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất cao hơn tăng trưởng giá trị tăng thêm. Ngoài ra, tăng trưởng mà hoàn toàn dựa vào khu vực FDI, trong nhiều trường hợp, tăng trưởng càng cao thì GNI (tổng thu nhập quốc gia) càng giảm do luồng tiền đi ra khỏi đất nước do chi trả sở hữu càng lớn. Từ số liệu về chi trả sở hữu thuần ra nước ngoài của TCTK, ước tính năm 2018 có thể chi trả sở hữu thuần ra nước ngoài khoảng trên 20 tỉ đô la Mỹ, trong đó khoảng hơn 10 tỉ đô la Mỹ là để trả nợ và hơn 10 tỉ đô la là khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) chuyển tiền một cách hợp pháp ra nước ngoài, trong khi trung bình khối FDI nộp thuế khoảng 7,5 tỉ đô la Mỹ.

Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn