Chính sách phát triển năng lượng tái tạo

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO

TS. Nguyễn Văn Hội,

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

 

Năng lượng tái tạo hay được gọi là năng lượng tái sinh, là nguồn năng lượng sạch, tự nhiên, liên tục được bổ sung, tái sử dụng vô hạn, không thể cạn kiệt như năng lượng mặt trời, gió, mưa, thủy triều, sóng, địa nhiệt, sinh khối, nhiên liệu sinh học... Năng lượng tái tạo đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới trên các lĩnh vực phát điện, đun nước nóng, nhiên liệu động cơ và điện nông thôn.

Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA), tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng mức tiêu thụ năng lượng thế giới chiếm 15% vào năm 2018, dự báo 2030 chiếm 22%, 2040 chiếm 25% và 2050 chiếm 28%. Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng sản xuất nhiên liệu lỏng thế giới không thay đổi, chiếm 2% trong giai đoạn 2018-2050. Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng sản xuất điện thế giới chiếm 28% vào năm 2018, chiếm 40% vào năm 2030, chiếm 46% vào năm 2040 và chiếm 49% vào năm 2050.

Tỷ lệ năng lượng tái tạo

2018

2030

2040

2050

Tổng mức tiêu thụ năng lượng

15%

22%

25%

28%

Tổng sản xuất nhiên liệu lỏng 

2%

2%

2%

2%

Tổng sản xuất điện

28%

40%

46%

49%

Nguồn: The U.S. Energy Information Administration (EIA)

Hiện nay, nhiều quốc gia phát triển trên thế giới đã sử dụng gần như hoàn toàn năng lượng tái tạo trong nền kinh tế và đã có thể cung cấp năng lượng cho toàn bộ đất nước trong một khoảng thời gian đáng kể. Các quốc gia dẫn đầu thế giới về năng lượng tái tạo bao gồm Costa Rica, Iceland, Na Uy, Bồ Đào Nha, Đức, Trung Quốc, Anh, Hà Lan, Chilê, Ấn Độ và Mỹ.

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo. Với điều kiện vị trí địa lý thuận lợi, đường bờ biển dài, khí hậu nhiệt đới gió mùa và nền kinh tế nông nghiệp, Việt Nam có thể khai thác các nguồn năng lượng tái tạo dồi dào và đa dạng, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội cũng như đảm bảo an ninh năng lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu. Hiện tại, Việt Nam có tiềm năng phát triển năm nguồn năng lượng tái tạo chính, bao gồm năng lượng mặt trời, gió, nước (thủy điện), sinh khối và địa nhiệt.

Đặt trong bối cảnh tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn vừa qua, có thể thấy rằng những kết quả phát triển năng lượng tái tạo rất đáng được ghi nhận. Đến cuối năm 2019, các nhà máy/ trang trại điện gió đã vận hành với tổng công suất khoảng 500 MW; các nhà máy điện mặt trời với tổng công suất khoảng 5.000 MW; các thủy điện nhỏ với tổng công suất khoảng 3.500 MW và điện sinh khối với tổng công suất khoảng 300 MW. Ngoài ra, năng lượng tái tạo được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, vận hành máy móc, thiết bị, cơ giới, trong dịch vụ thương mại, kho hàng logistics, chợ đầu mối, đặc biệt là sử dụng của các hộ gia đình, nhất là những khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.

Trong giai đoạn vừa qua, một hệ thống các cơ chế, chính sách cho phát triển năng lượng tái tạo được xây dựng và hoàn thiện. Nghị định số 80/HĐBT ngày 19/7/1983 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ cung ứng và sử dụng điện có thể coi là cơ sở cho xây dựng và ban hành những cơ chế, chính sách phát triển năng lượng tái tạo sau này. Quyết định số 22/1999/QĐ-TTg ngày 13/02/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án điện nông thôn đến năm 2000 chưa quy định cụ thể về năng lượng tái tạo nhưng đã có những cơ chế, chính sách đưa điện về nông thôn phải kết hợp giữa phát triển lưới điện quốc gia và phát triển điện tại chỗ như thủy điện nhỏ, điện gió, điện mặt trời hầm khí bioga.... trên cơ sở phân tích các phương án tối ưu về chi phí và các yếu tố khác có liên quan.

Quyết định số 95/2001/QĐ-TTg ngày 22/6/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 có xét triển vọng đến năm 2020 (gọi tắt Quy hoạch điện V) có những cơ chế, chính sách phát triển thuỷ điện nhỏ, điện gió, điện mặt trời... cho các khu vực xa lưới điện, miền núi, biên giới, hải đảo. Tiếp đó, Nghị định số 45/2001/NĐ-CP ngày 02/8/2001 của Chính phủ quy định về hoạt động điện lực và sử dụng điện ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí và những ưu đãi xây dựng nguồn điện tại chỗ như thuỷ điện nhỏ, điện dùng năng lượng mặt trời và các dạng năng lượng khác cho các địa phương miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn không có khả năng đưa điện lưới quốc gia tới hoặc việc đưa điện lưới quốc gia đến không có lợi về mặt kinh tế.

Luật Điện lực số 28/2004/QH11 ngày 03/12/2004 và Luật số 24/2012/QH13 ngày 20/11/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực đã ban hành những cơ chế, chính sách về năng lượng tái tạo nói chung. Trong đó quy định đẩy mạnh việc khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo để phát điện; có chính sách ưu đãi đối với dự án đầu tư phát triển nhà máy phát điện sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo. Quy hoạch phát triển điện lực phải phù hợp với quy hoạch các nguồn năng lượng sơ cấp cho phát điện gồm cả nguồn năng lượng tái tạo. Chương trình phát triển điện lực quốc gia bao gồm phát triển nguồn năng lượng tái tạo. Đánh giá tiềm năng phát triển các nguồn điện tại địa phương bao gồm cả nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo. Dự án đầu tư phát triển nhà máy phát điện sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo được hưởng ưu đãi về đầu tư, giá điện và thuế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển điện lực sử dụng năng lượng tái tạo. Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng lưới điện hoặc các trạm phát điện sử dụng năng lượng tái tạo để cung cấp điện cho vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo.

Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg ngày 18/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006 - 2015 có xét đến năm 2025 (gọi tắt là Quy hoạch điện VI) có những cơ chế, chính sách phát triển thủy điện nhỏ, năng lượng mới và tái tạo cho các vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo; khuyến khích đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo. Quyết định số 1208/QĐ-TTg ngày 21/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 (gọi tắt là Quy hoạch điện VII), được điều chỉnh theo Quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 18/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ đã có những cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo; đẩy mạnh phát triển và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo cho sản xuất điện, từng bước nâng cao tỷ trọng nguồn điện sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo; hình thành và phát triển hệ thống điện thông minh, có khả năng tích hợp với nguồn năng lượng tái tạo có tỷ lệ cao; ưu tiên phát triển nguồn năng lượng tái tạo cho sản xuất điện; tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo; đẩy nhanh phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo (thủy điện, điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối...), khuyến khích từng bước gia tăng tỷ trọng của điện năng sản xuất từ nguồn năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện.

Trên cơ sở Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2007 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1855/QĐ-TTg ngày 27/12/2007 phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 với quan điểm phát triển ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo, mục tiêu phát triển là đẩy mạnh phát triển nguồn năng lượng tái tạo và định hướng là phát triển là khuyến khích phát triển nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo. Đồng thời đề ra xây dựng và thực hiện các chính sách đầu tư cho phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, thành lập quỹ phát triển năng lượng để hỗ trợ đầu tư cho phát triển năng lượng tái tạo, tìm kiếm thăm dò, phát triển nguồn năng lượng tái tạo.

Bên cạnh đó, một loạt những cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển các nguồn năng lượng tái tạo chính, bao gồm Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg ngày 29/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg ngày 10/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam; Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 02/2019/QĐ-TTg ngày 08/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam; Quyết định số 24/2014/QĐ-TTg ngày 24/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 08/2020/QĐ-TTg ngày 05/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối tại Việt Nam; Thông tư số 16/2017/TT-BCT ngày 12/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Công Thương, được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 05/2019/TT-BCT ngày 11/3/2019 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về phát triển dự án và Hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời.

Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 thực sự là một động lực thúc đẩy năng lượng tái tạo Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Trong đó đã đề ra những quan điểm và định hướng về cơ chế, chính sách kết hợp phát triển năng lượng tái tạo với triển khai thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo kết hợp với phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo, ưu tiên phát triển nhanh những lĩnh vực năng lượng tái tạo có nguồn tài nguyên lớn và triển vọng thương mại tốt, như điện gió, điện mặt trời và điện sinh khối. Đặc biệt, khuyến khích hình thành thị trường về năng lượng tái tạo, ưu tiên đầu tư và sử dụng năng lượng tái tạo trong phát triển ngành năng lượng, làm cơ sở cho xây dựng, thúc đẩy phát triển thị trường năng lượng tái tạo. Đồng thời, khuyến khích các tổ chức, cá nhân với các hình thức sở hữu khác nhau tham gia vào việc phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo. Nhà nước bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo.

Trong giai đoạn hơn 2 thập kỷ vừa qua, một hệ thống các cơ chế, chính sách cho phát triển năng lượng tái tạo đã được xây dựng và từng bước hoàn thiện. Tuy vậy, tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam vẫn còn rất lớn, đa dạng và phong phú. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện những cơ chế, chính sách để khuyến khích phát triển mạnh mẽ năng lượng tái tạo, bao gồm:

Một là, cần triển khai thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp theo Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, bao gồm xây dựng các cơ chế, chính sách đột phá để khuyến khích và thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo nhằm thay thế tối đa các nguồn năng lượng hoá thạch; hình thành và phát triển một số trung tâm năng lượng tái tạo tại các vùng và các địa phương có lợi thế; đầu tư hiện đại hoá ngành điện từ khâu sản xuất, truyền tải đến phân phối đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường điện, có khả năng tích hợp quy mô lớn nguồn năng lượng tái tạo; đẩy nhanh lộ trình thực hiện thị trường điện cạnh tranh, cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp giữa nhà sản xuất và khách hàng tiêu thụ, cơ chế đấu thầu, đấu giá cung cấp năng lượng phù hợp, đặc biệt trong các dự án đầu tư năng lượng tái tạo; có chính sách khuyến khích tiêu thụ sử dụng năng lượng sạch, tái tạo; phát triển thị trường năng lượng đồng bộ, liên thông giữa các phân ngành điện, than, dầu khí và năng lượng tái tạo, kết nối với thị trường khu vực và thế giới; hoàn thiện chính sách thuế khuyến khích sản xuất, sử dụng năng lượng sạch, tái tạo; hoàn thiện cơ chế và thực hiện chính sách về tiêu chuẩn tỉ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu đầu tư và cung cấp năng lượng; nghiên cứu, xây dựng và ban hành luật về năng lượng tái tạo; tiếp tục triển khai các chương trình khoa học và công nghệ về nghiên cứu ứng dụng và phát triển năng lượng tái tạo.

Hai là, tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, bao gồm tăng cường quản lý nhà nước trong phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo; điều tra tài nguyên nguồn năng lượng tái tạo; lập quy hoạch và kế hoạch phát triển nguồn năng lượng tái tạo; xây dựng để áp dụng hoặc công bố áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia cho lưới điện đồng bộ với các nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo và các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các công trình, thiết bị khác liên quan đến năng lượng tái tạo; nâng cao tỷ lệ phát triển và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo; hỗ trợ tài chính cho phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo; phát triển nguồn nhân lực cho năng lượng tái tạo; hỗ trợ hình thành thị trường và công nghệ năng lượng tái tạo; tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân, cộng đồng về phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo; và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực năng lượng tái tạo.

Ba là, lập và thực hiện các quy hoạch có liên quan, bao gồm Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện VIII) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ tại Quyết định số 1264/QĐ-TTg ngày 01/10/2019; Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ tại Quyết định số 1743/QĐ-TTg ngày 03/12/2019. Ngoài ra, cần nghiên cứu hoàn thiện các cơ chế, chính sách về đất đai, thuế, ưu đãi tín dụng có liên quan trong phát triển năng lượng tái tạo.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Kais Saidi, AnisOmri (2020), The impact of renewable energy on carbon emissions and economic growth in 15 major renewable energy-consuming countries, Environmental Research, Available online 22 April 2020, 109567.
  2. Rouhollah Shahnazi, Zahra Dehghan Shabani (2020), Do renewable energy production spillovers matter in the EU?, Renewable Energy, Volume 150, May 2020, Pages 786-796.
  3. Website of The U.S. Energy Information Administration (EIA) - https://www.eia.gov.