Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam - Sự vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin của Đảng ta

Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam - Sự vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin của Đảng ta

    PGS.TS. Trần Thị Minh Châu

Viện Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

 

Bối cảnh thế giới đã thay đổi rất nhiều so với thời của C.Mác và V.I.Lênin, nhất là lực lượng sản xuất với tư cách công cụ, phương tiện sản xuất và bản thân con người (với tri thức, kỹ năng và văn hóa hiện nay). Tuy nhiên, lý tưởng xã hội chủ nghĩa (nhằm giải phóng con người khỏi áp bức, bất bình đẳng, nâng người lao động lên địa vị làm chủ cuộc đời của họ) thì không thay đổi. Vấn đề là tìm phương cách khả thi, tối ưu để thực hiện lý tưởng đó trong điều kiện hiện tại, nhất là tìm phương cách thể chế hóa chế độ sở hữu và các loại hình sở hữu trong nền kinh tế thị trường sao cho đạt tốc độ tăng trưởng, phát triển tối ưu đi đôi với tạo điều kiện để đông đảo người lao động có sự hiểu biết và kỹ năng để thông qua Nhà nước mà làm chủ vận mệnh của mình.

Ảnh minh họa

 

Là người chịu trách nhiệm lãnh đạo Nhân dân xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước Nga sau khi giành được chính quyền, thời kỳ đầu, V.I.Lênin đã trung thành với các chỉ dẫn của Mác và Ănghen trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" thể hiện trong việc áp dụng quốc hữu hóa trong các lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp, tài chính và đất đai, đồng thời áp dụng chế độ thu sản phẩm để phân phối trực tiếp không qua mua bán. Những chính sách này đã triệt tiêu động lực của những người nông dân và làm đình trệ quá trình trao đổi sản phẩm trong một nước kiệt quệ sau chiến tranh. Sau nội chiến, để cứu nguy và phục hồi nền kinh tế bằng chính sức lực của Nhân dân, V.I.Lênin đã đưa ra Chính sách kinh tế mới, trong đó có nội dung về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước đa số dân cư là tiểu nông. Trong bối cảnh bị các nước tư bản chủ nghĩa bao vây, cấm vận, chống phá, Chính sách kinh tế mới của V.I. Lênin đã tạo điều kiện cho tư nhân trong nước phát triển. Để tạo sự đồng thuận trong Đảng cũng như trong Nhân dân, V.I.Lênin đã luận chứng nhiều lần cho sự cần thiết phải thực hiện Chính sách kinh tế mới (mà chính Ông gọi là bước lùi về chủ nghĩa tư bản, nhưng là bước cực kỳ cần thiết để có thể tiến bước thành công lên chủ nghĩa xã hội). Vũ khí để chế độ xã hội chủ nghĩa không thể bị lật đổ chính là Nhà nước Xô viết được nhân dân tin tưởng và tiến hành kiểm tra, kiểm soát để tư bản tư nhân không thể lái nền kinh tế quay trở về quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Một thành phần kinh tế tư bản tư nhân chịu sự chế định, kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước xã hội chủ nghĩa được V.I.Lênin đặt cho tên mới là chủ nghĩa tư bản nhà nước. Thực tiễn phát triển kinh tế nước Nga những năm thực thi Chính sách kinh tế mới cho thấy đường lối, chủ trương, sách lược của V.I.Lênin là đúng đắn. Vấn đề là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở chính ngay nước Nga đến khi nào là kết thúc và nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sau khi thời kỳ quá độ kết thúc là như thế nào thì V.I.Lênin chưa có thời gian tổng kết thực tiễn và lý luận để chỉ ra.

Từ sau khi V.I.Lênin mất đến năm 1991, kinh tế nước Nga nói riêng, Liên bang Xô viết nói chung, không phải không gặt hái được thành công. Từ điểm xuất phát là một nước tư bản chủ nghĩa phát triển ở mức thấp, nước Nga đã kéo theo nhiều nước kém phát triển khác trong Liên bang Xô viết để trở thành một cường quốc đạt tới trình độ cao trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp, vũ trụ… Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chủ yếu do khai thác nguồn lực theo chiều rộng và ở một mức độ lớn là hạn chế tiêu dùng của dân cư. Những nhược điểm của kế hoạch hóa tập trung cứng nhắc và kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước loại bỏ cơ chế thị trường đã khiến Liên bang Xô viết hùng mạnh tan rã.

Ngày nay không chỉ các nước lựa chọn xu hướng xã hội chủ nghĩa phải cải cách, đổi mới chuyển sang phát triển kinh tế thị trường, mà bản thân các nước tư bản chủ nghĩa cũng cải cách, đổi mới theo hướng tăng dần phạm vi can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường. Điểm chung của cả hai hướng cải cách mang dấu ấn của thời đại cả loài người quá độ từng bước lên chủ nghĩa xã hội với tư cách hình thái kinh tế - xã hội tiên tiến hơn hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa là thừa nhận kinh tế thị trường như là một môi trường, một điều kiện, một cơ chế tự phát điều tiết hành vi của con người đáp ứng tốt nhất khát vọng giải phóng con người trong lĩnh vực kinh tế là tự do hành động, bình đẳng trong giao dịch kinh tế và dân chủ trong ra quyết định. Tuy nhiên, điều kiện cần thiết để có kinh tế thị trường là thừa nhận bằng hệ thống luật pháp sở hữu riêng của các chủ thể kinh tế đối với tài sản thuộc về họ phân biệt với chủ thể không phải là chủ sở hữu. Chỉ khi nào là người chủ sở hữu hợp pháp tài sản (dưới hình thức hiện vật hoặc giá trị) chủ thể kinh tế mới có thể mua, bán tài sản đó. Bản thân phạm trù "sở hữu" đã bao hàm quyền của người chủ sở hữu đối với vật mà chủ thể không sở hữu không có. Về mặt lý thuyết cũng như về mặt quy định của pháp luật quốc gia, có nhiều cách phân định quyền của chủ sở hữu khác nhau. Song, tựu chung, chủ sở hữu phải có ít nhất các quyền sau: chiếm giữ (tức ngăn không cho người khác tiếp cận để sử dụng tài sản của mình); tự ý sử dụng (khai thác giá trị sử dụng của tài sản và hưởng lợi từ sự sử dụng đó); định đoạt tài sản trong quan hệ với người khác (đổi, cho, tặng, để thừa kế, bán, phá hủy, cải tạo…). Bán tài sản chỉ là một quyền nhỏ của chủ sở hữu tài sản. Tuy nhiên, nếu không là chủ sở hữu (hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền), thì chủ thể không có quyền bán tài sản. Nói cách khác, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước phải bảo hộ quyền chính đáng của chủ sở hữu. Song, tùy loại tài sản, quyền của chủ sở hữu có thể bị pháp luật thu hẹp nhân danh lợi ích chung. Ví dụ, quyền của chủ sở hữu đất bị giới hạn về chiều cao, độ sâu, đồng thời phải chia sẻ quyền sử dụng một phần cho những người chủ đất liền kề…Quyền của chủ sở hữu trí tuệ có thể bị pháp luật giới hạn trong một số năm…

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, các chủ thể kinh tế rất đa dạng: thể nhân (cá nhân là công dân trong nước hoặc người nước ngoài; là người đã trưởng thành, đủ năng lực pháp lý hoặc người chưa trưởng thành, không có đủ năng lực pháp lý, cần người giám hộ…), pháp nhân (các tổ chức hợp pháp có đủ tư cách trong giao dịch hàng hóa. Loại này gồm rất nhiều kiểu tổ chức khác nhau như tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức văn hóa…). Mỗi pháp nhân lại có cơ chế thực thi quyền của chủ sở hữu giữa các cá nhân có liên quan đến pháp nhân đó theo những cách đặc thù của chúng. Ví dụ, sở hữu của Nhà nước là để phục vụ lợi ích quốc gia, địa phương, lĩnh vực. Sở hữu của hiệp hội được sử dụng vì lợi ích chung của hội viên… Cơ chế thực thi quyền của chủ sở hữu được ghi rõ trong điều lệ thành lập tổ chức và được phân cấp cho bộ máy quản lý tổ chức...

Việt Nam, trong giai đoạn trước đổi mới (từ năm 1975 đến năm 1985) cả nước tiến hành cải tạo sở hữu tư nhân, nỗ lực thiết lập chế độ công hữu thuần khiết (bao gồm sở hữu quốc gia (còn gọi là quốc doanh) và sở hữu tập thể (trong các hợp tác xã)) đã gặp phải vô vàn khó khăn dẫn đến tình trạng trì trệ, khủng hoảng. Trong nông nghiệp, xã viên hợp tác xã không thiết tha với việc lao động lấy công điểm. Họ dồn sức vào mảnh đất 5%. Và kỳ lạ thay, 5% đất có thể đem lại cho hộ gia đình nông dân 50% thu nhập để nuôi sống gia đình. 95% đất thuộc sở hữu tập thể trong hợp tác xã không đem lại nổi 50% thu nhập còn lại. Kết quả là Nhà nước phải vay nợ nước ngoài để cứu đói. Trong công nghiệp, cơ quan nhà nước không thể cung ứng đủ đầu vào, không tiêu thụ được đầu ra cho xí nghiệp quốc doanh. Mậu dịch quốc doanh không đủ hàng hóa bán cho nhân dân theo tem phiếu dẫn đến tình trạng buôn lậu, phe phẩy. Những thử nghiệm khoán trong nông nghiệp và công nghiệp cho thấy những kết quả tích cực, thể hiện qua số lượng đầu ra tăng lên trong khi Nhà nước không có khả năng cung ứng thêm đầu vào. Đồng thời, kinh nghiệm của nước Nga trong thời kỳ thực hiện Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin đã cung cấp cơ sở lý luận cho những quyết sách đổi mới của Đảng và nhà nước ta khởi đầu từ Đại hội VI.

Mặc dù Đại hội VI còn khá thận trọng trong thừa nhận kinh tế tư nhân và sản xuất hàng hóa, nhưng đã xác định đúng đắn đường lối đổi mới là lấy giải phóng sức sản xuất (được hiểu là gỡ bỏ rào cản và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển) làm tiêu chuẩn hàng đầu trong đổi mới thể chế quản lý và chính sách. Điểm then chốt quyết định thành công trong những năm đầu đổi mới đầy bỡ ngỡ và khó khăn chính là phương thức chỉ đạo linh hoạt, lấy kết quả hoạt động thực tiễn làm thước đo đúng sai, nhanh chóng nhận ra những sai lầm, rào cản để nhanh chóng gỡ bỏ và sửa sai, tạo dư địa cho kinh tế tăng trưởng. Nhằm giảm thiểu các biến động mất kiểm soát, Đảng và Nhà nước lựa chọn phương pháp đổi mới dần dần, tiệm tiến. Lúc đầu chính sách đối xử với các thành phần kinh tế còn phân biệt giữa quốc doanh, tập thể (gọi là thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa) với người sản xuất hàng hóa nhỏ (lao động bằng tư liệu sản xuất của họ, không bóc lột) và tư bản tư nhân trong và ngoài nước. Đặc biệt Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam còn khuyến khích kinh tế tự cung, tự cấp (thành phần kinh tế tự nhiên) nhằm gia tăng tối đa sản phẩm cho xã hội. Đi cùng với thừa nhận kinh tế nhiều thành phần Đại hội VI đã thừa nhận tính hợp lý của lợi ích cá nhân (hộ gia đình), lợi ích pháp nhân (doanh nghiệp) và đặt mục tiêu giải quyết công bằng, tiến bộ xã hội sau mục tiêu giải phóng năng lực sản xuất...

Đại hội VII tiến thêm một bước trong thừa nhận cơ chế thị trường đi đôi với khuyến khích mạnh mẽ hơn các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân (trong nước và nước ngoài) phát triển. Giai đoạn 1991-1995 là giai đoạn Việt Nam nỗ lực để hội nhập trở lại với các tổ chức kinh tế quốc tế, qua đó mở rộng trao đổi hàng hóa, đầu tư với các nước tư bản chủ nghĩa, đánh dấu bằng việc nỗ lực bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, Trung Quốc và gia nhập ASEAN, nộp đơn xin ra nhập WTO, bắt đầu đàm phán các FTA với các nước, nhất là Mỹ...

Những thành công trong tăng trưởng, phát triển kinh tế thời kỳ 1986-1996 vượt trội so với thời kỳ 1975-1985 đã củng cố thêm niềm tin cho Việt Nam tích cực hơn nữa trong việc chuyển sang kinh tế thị trường. Từ Đại hội IX Đảng ta đã chính thức xác định mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với 3 điểm nhấn liên quan đến sở hữu và thành phần kinh tế: Một là, nêu rõ chế độ đa sở hữu đa thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; các thành phần kinh tế tư nhân (trong nước và nước ngoài) là những bộ phận hữu cơ, tồn tại lâu dài trong nền kinh tế, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, bình đẳng trước pháp luật. Chính điều này là vượt qua giới hạn của Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin (vì Ông coi Chính sách kinh tế mới chỉ là bước lùi tạm thời, khi nào nền kinh tế Nga vượt qua giai đoạn khó khăn, tự đứng vững trên nền tảng cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình thì lập tức lại quay trở lại chế độ công hữu theo chỉ dẫn của Mác).

Đại hội XII còn nhấn mạnh hơn nữa tầm quan trọng của kinh tế tư nhân, coi nó là một động lực quan trọng của nền kinh tế, của tăng trưởng, phát triển đi đôi với chủ trương tích cực cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, hạn chế đầu tư công vào các lĩnh vực cạnh tranh với đầu tư tư nhân...

Một số nhà khoa học lên tiếng đòi xóa bỏ cách tiếp cận thành phần kinh tế (mặc dù khởi nguyên của phạm trù thành phần kinh tế hàm ý đại diện cho phương thức sản xuất), coi nền kinh tế thị trường gồm 2 khu vực: công và tư, dựa trên sự phân chia tài sản thuộc sở hữu của nhà nước và tài sản thuộc sở hữu tư nhân, nhất là tài sản trong sản xuất được định giá bằng tiền (vốn). Không thể phủ nhận việc phân định nền kinh tế thành khu vực công và khu vực tư, nhất là trong khía cạnh tìm cách nâng cao hiệu quả hoạt động chung của nền kinh tế (bởi có quan niệm phổ biến, và thực tiễn Việt Nam cũng đang chứng minh cho quan điểm đó, rằng, khu vực công hiện nay đang quản lý một cách kém hiệu quả). Nhưng, từ bỏ việc phân chia thành phần kinh tế cũng chính là từ bỏ quan điểm quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từ bỏ cách nhìn lịch sử loài người là lịch sử thay thế các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, coi nền kinh tế Việt Nam cũng như các nền kinh tế thị trường khác, chỉ có điều trình độ phát triển của Việt Nam thấp hơn. Nếu vẫn giữ quan điểm quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thì phải xác định rõ: trong các thành phần kinh tế ở nước ta, thành phần kinh tế nào đặc trưng cho chủ nghĩa xã hội.

Khi đề xuất chế độ sở hữu của xã hội xã hội chủ nghĩa là công hữu, có lẽ C.Mác và Ph.Ănghen mới dựa trên một căn cứ là quy luật phủ định của phủ định, với niềm tin rằng, tư hữu tư sản là trình độ phát triển cao nhất của chế độ tư hữu, do đó, cách mạng vô sản phải thiết lập nên cái đối lập với nó là công hữu. C.Mác cũng được cổ vũ cho đề xuất này từ lập luận khác: do giai cấp vô sản không có tư liệu sản xuất, nên khi giai cấp này làm cách mạng, chỉ có thể có hai con đường: 1) biến toàn bộ tư liệu sản xuất thành của cải dùng chung (lao động hiệp tác trên quy mô lớn trong xí nghiệp tư bản); 2) chia bình quân tư liệu sản xuất cho tất cả mọi người lao động để dẫn đến một nền tiểu sản xuất chắc chắn sẽ bị sản xuất lớn làm cho phá sản. Song, chúng ta thấy, phân công lao động ngày nay đã phát triển theo chi tiết sản phẩm, do đó doanh nghiệp không cần quy mô lớn vẫn có thể áp dụng công nghệ hiện đại. Đồng thời mạng Internet, máy tính điện tử, robot, trí tuệ nhân tạo… có thể kết nối để tạo thành sự hợp tác ở quy mô lớn trong việc sản xuất sản phẩm mà không cần tập trung đông người vào một địa điểm. Bắt đầu từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, các doanh nghiệp nhỏ đã lấy lại lợi thế của nó so với doanh nghiệp lớn. Tất cả những thay đổi đó làm cho tính tất yếu chuyển sở hữu tư nhân thành sở hữu xã hội để đáp ứng nhu cầu quản lý và sử dụng tư liệu sản xuất có tính xã hội đã trở nên yếu đi. Nói cách khác, có thể có nhiều cách hợp tác giữa những con người với nhau trong xã hội mà không cần sở hữu chung với vai trò trung gian của Nhà nước. Ví dụ, thay vì thành lập doanh nghiệp kinh doanh tắc xi quy mô lớn, xuất hiện Grab kinh doanh tắc xi không cần sở hữu xe ô tô. Ngoài ra, việc sở hữu chung dưới hình thái sở hữu nhà nước khi nguồn lực và của cải còn khan hiếm so với nhu cầu sẽ có thể dẫn tới sử dụng tài sản chung một cách lãng phí hoặc bị công chức nhà nước lạm dụng vì lợi ích riêng của họ...

Phải chăng phương cách đó là đổi mới, cải cách tiệm tiến đã được nêu ra trong Đại hội VI và được hoàn thiện dần ở các Đại hội sau này là: ưu tiên giải phóng sức sản xuất kể cả thừa nhận các thành phần kinh tế chưa phải xã hội chủ nghĩa, các hình thức sở hữu đa dạng, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thực hiện dân chủ, công bằng, tiến bộ xã hội trong từng chính sách, giai đoạn phát triển đất nước./.