Bài 6: Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu trong quản lý tổng hợp nguồn nước phục vụ nông, lâm, thủy sản và dân sinh ở Đồng bằng sông Cửu Long

Ban Kinh tế Trung ương trân trọng giới thiệu một số bài tham luận tại Hội thảo chuyên đề 1: "Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững vì một Việt Nam thịnh vượng" trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc và Triển lãm quốc gia về thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Bài 6: Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu trong quản lý tổng hợp nguồn nước phục vụ nông, lâm, thủy sản và dân sinh ở Đồng bằng sông Cửu Long

 

GS.TS Đào Xuân Học

                                                                                           Chủ tịch Hội Thuỷ lợi Việt Nam 

 

  1. Những vấn đề của đồng bằng sông Cửu Long

Trong hơn 20 năm qua, Chính phủ Việt Nam đã quan tâm đầu tư nhiều chương trình như: Chương trình kiểm soát lũ, đã XD 13.347 km cụm tuyến dân cư cho 314.133 hộ dân sinh sống;19.930km đê bao chống lũ triệt để bảo vệ 6.026 ô ruộng sản xuất 3 vụ và 17.760km đê bao chống lũ để bảo vệ 4.513 ô ruộng sản xuất hai vụ (tổng chiều dài đê bao 37.690km để bảo vệ 10.539 ô ruộng); chương trình kiểm soát mặn và cải tạo đất; nhiều chính sách hỗ trợ người dân trong vũng lũ đã kịp thời ban hành... Nhờ vậy, số người bị thiệt hại do lũ lụt đã giảm đáng kể; diện tích gieo trồng, năng suất và sản lương tăng liên tục; những thành tựu về kinh tế xã hội không ngừng được phát triển.

Trong điều kiện BĐKH và NBD, khu vực ĐBSCL đang chịu những thách thức lớn từ phía biển, từ thượng lưu và nội tại trong ĐB và đã bộc lộ nhiều vấn đề cần phải quan tâm giải quyết. Các đô thị trong khu vực đều bị ngập úng do lũ, do triều và do mưa lớn; 2078km trên tổng số13.347km đê bao đã bị ngập, riêng ở hai tỉnh Đồng Tháp và An Giang trên 50% cụm tuyến dân cư đã bị ngập; hệ thống đê bao bờ bao quá nhiều (37.690km), độ bền vững không cao, tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro; chưa có giải pháp chống xâm nhập mặn và cấp nước ngọt chủ động vùng ven biển, phân ranh mặn ngọt chưa rõ ràng.

Hệ thống hồ chứa thủy điện đã và sẽ xây dựng trong lưu vực sông Mekong là 144 hồ, với tổng dung tích chiếm gần 30% tổng lượng dòng chảy bình quân. Lưu lượng dòng chảy trung bình mùa lũ sẽ giảm, những năm lũ trung bình và lũ nhỏ sẽ gần như không còn lũ, lưu lượng dòng chảy trung bình mùa kiệt sẽ tăng. Nhưng lưu lượng dòng chảy lũ lớn nhất vẫn tăng cao, lưu lượng dòng chảy kiệt nhỏ nhất sẽ giảm, phụ thuộc vào chế độ vận hành các hồ chứa. Sự phát triển kinh tế và quá trình đô thị hóa sẽ làm gia tăng nhu cầu dùng nước, sẽ làm suy giảm dòng chảy kiệt về hạ lưu.

Lưu lượng bình quân mùa lũ giảm, dòng chảy trong sông sẽ yếu dần, ngược lại, dòng triều tác động ngày càng mạnh lên. Cùng với việc san lấp các vùng trũng, làm biên độ triều tăng, năng lượng triều gia tăng, thời gian truyền triều từ biển vào rút ngắn, mức nước đỉnh triều cao dẫn đến diện tích bị ngập triều gia tăng, xói lở bờ nhiều hơn và xâm nhập mặn ngày càng gay gắt. Lưu lượng tạo lòng sông thay đổi, cùng với sự sụt giảm khoảng 75% hàm lượng phù sa, đã, đang và sẽ tiếp tục gây ra xói lở ở ven sông, kênh rạch và ven biển một cách nghiêm trọng. Một cân bằng mới sẽ hình thành, tuy nhiên nó lại bị tác động lớn bởi chế độ vận hành của các hồ chứa, nên các lòng sông hạ lưu không thể có sự ổn định theo quy luật tự nhiên vốn có của nó.

Sự thay đổi và ô nhiễm môi trường là một nguy cơ lớn do những hoạt động xây dựng, vận hành khai thác các hồ thủy điện, xả nước thải đô thị & công nghiệp, khai khoáng, giao thông thủy, khai thác rừng, xóa bỏ các vùng đất ướt và ô nhiễm nguồn nước từ thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt vấn đề khai thác dầu khí ở khu vực Biển Hồ.

Biển Hồ ở Campuchia với dung tích từ 2-80 tỷ m3, có vai trò quan trọng trong việc tạo chế độ dòng chảy hài hòa ở hạ lưu. Tuy nhiên, ý tưởng xây dựng công trình điều tiết trên sông Tonle Sap đã từng được nghiên cứu nhằm chống lũ lớn và dâng cao mực nước kiệt trong Biển Hồ. Vì vậy một kịch bản nghiên cứu trạng thái cực đoan về dòng chảy lũ và dòng chảy kiệt khi có công trình trên sông Tonle Sap kiểm soát Biển Hồ là một nội dung cần thiết để chủ động thích ứng.

Những tác động từ suy giảm diện tích rừng, từ BĐKH, sự gia tăng nhu cầu nước ở các nước thượng nguồn và vấn đề quản lý hồ thủy điện có thể làm cho lưu lượng lũ lớn nhất trên sông Mekong, dòng chảy kiệt có thể suy giảm khoảng 10% (năm 2030 và 20% (năm 2050). Tất yếu sẽ kéo theo sự gia tăng đỉnh lũ lớn và sự xâm nhập mặn một cách nghiêm trọng ở ĐBSCL trong thời gian tới.

Sự hạ thấp MN ngầm ở các đô thị và ở ĐBSCL ở mức 70cm/năm là rất nghiêm trọng, kéo theo việc lún sụt đất ở các đô thị và đồng bằng ở mức 2-3cm (gấp 5 lần tốc độ nước biển dâng) cũng là một trong những nguyên nhân chính gây nên sự úng ngập ở các đô thị ở ĐBSCL và Tp.HCM. Dải ven biển ở ĐBSCL là vùng thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản và đa dạng sinh học. Tuy nhiên năng suất và sản lượng lại không ổn định, do thường xuyên xảy ra dịch bệnh tàn phá các khu nuôi, tạo nên cuộc sống bấp bênh của người nuôi trồng thủy sản. Nguyên nhân chủ yếu là cơ sở hạ tầng của hầu hết các khu nuôi không đáp ứng yêu cầu tối thiểu. Ngoài ra, những trạng thái thiên tai cực đoan như bão lớn, siêu bão ngày càng xuất hiện nhiều hơn, và có thể gây ra những tổn thất khó lường.  

Để bảo vệ tính mạng người dân, tạo tiền đề cho phát triển bền vững dải ven biển, rất cần có một chiến lược và giải pháp đồng bộ nhằm phòng tránh các thiên tai như NBD, bão lớn, siêu bão và sóng thần, kết hợp tạo được ranh mặn ngọt, xây dựng đường cấp và đường thoát riêng biệt, chủ động trong cấp nước mặn và cấp nước ngọt, tiến tới dừng việc khai thác nước ngầm-nguyên nhân gây lún sụt đất.

Quản lý, hạn chế việc khai thác nước ngầm ở đồng bằng và các đô thị, không chỉ đảm bảo cho phát triển bền vững mà nó đã trở thành vấn đề sống còn của đồng bằng và các đô thị. Giải quyết cấp nước ngọt chủ động cho các vùng sản xuất ven biển là nhiệm vụ cấp thiết, ở vùng xa nguồn cấp nước ngọt, thì việc nghiên cứu các giải pháp trữ nước là rất cần thiết.

Để giải quyết nhu cầu bức bách về ngập úng, lũ lụt và những thách thức từ BĐKH, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt nhiều DA quy hoạch như, QH tổng thể thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH và NBD đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2050, QH thủy lợi chống ngập úng cho Tp. HCM, Kế hoạch ĐBSCL do các chuyên gia Hà Lan giúp đỡ thực hiện. Các quy hoạch đều nằm trong khu vực ĐBSCL, có sự tác động lẫn nhau về chế độ thủy văn, tuy nhiên sự kết nối giữa các vùng và mối tương tác giữa các giải pháp chưa cao, chưa được đặt trong một bài toán tổng thể với tầm nhìn dài hạn. Một số nội dung cơ bản trong quản lý lũ, quản lý xâm nhập mặn và thiên tai từ biển còn có nhiều ý kiến trái chiều từ các nhà khoa học.

Quy hoạch thủy lợi chống ngập cho Tp. Cần Thơ, Vĩnh Long và Cà Mau đã được phê duyệt, đang chờ nguồn vốn để thực hiện, với tổng diện tích được bảo vệ là 66.800ha, chia thành 39 ô bao, được bảo vệ bởi 500 km đê bao và 47 trạm bơm tiêu. Việc chống úng ngập cục bộ cho các đô thị như Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Long An, Tiền Giang và tất cả các thị trấn nhỏ khác nằm ở vùng TGLX, vùng ĐTM, và nửa trên của vùng kẹp giữa sông Hậu, sông Tiền… sẽ được thực hiện trong thời gian tới.

DA Ô Môn-Xà No, nằm giữa ĐBSCL là một ví dụ sinh động về sự đầu tư manh mún, thiếu tính tổng thể và lâu dài. DA được đầu tư gần 300 triệu đô la từ nguồn vốn của WB, để chống lũ và ngăn mặn cho diện tích 43.000ha. Tuy có đem lại hiệu quả nhất định cho vùng bảo vệ, nhưng lại gây dềnh nước cho các khu vực xung quanh và là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ngập gia tăng ở Tp. Cần Thơ.

Tổ hợp các nguyên nhân đã nêu và cách làm trong giai đoạn qua đã làm cho MN trong nội đồng năm 2011 cao hơn năm 2000 tới 20cm (ở thượng nguồn thấp hơn 20cm), gây úng ngập hầu hết các thành phố và làng mạc ở khu giữa ĐB, như Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang, Long An, Sa Đéc, Đồng Tháp, Châu Đốc, Long Xuyên, Cà Mau và Tp. Hồ Chí Minh ngày càng sâu với tốc độ rất nhanh chóng. Mức nước lũ trong đồng cao, tiêu thoát chậm nên người dân lại phải bơm tiêu nước lũ cuối vụ để kịp thời vụ gieo trồng.

Theo các quy hoạch đã được phê duyệt, nhiều thành phố, nhiều vùng lại tiếp tục được bao đê cục bộ để chống lũ. Sau khi xây dựng đê bao cục bộ cho các thành phố ở giữa đồng bằng, diện tích trữ lũ tiếp sẽ tục giảm, đất vẫn tiếp tục lún sụt, mực nước lũ vẫn sẽ gia tăng dẫn đến các xã, ấp đông dân cư ở gần các thành phố đã ngập và sẽ ngập cao hơn, chúng ta lại phải tiếp tục bao đê để bảo vệ, mực nước lại tiếp tục gia tăng. Hiện tượng lan truyền (domino) sẽ tiếp tục xảy ra và sẽ còn tiếp diễn theo thời gian như một vòng luẩn quẩn không chấm dứt.

Những ý tưởng và các giải pháp về quản lý lũ, quản lý xâm nhập mặn và thiên tai, phối hợp với việc phân ranh mặn ngọt, các giải pháp cấp nước, trữ nước cung cấp cho vùng ven biển để giảm và chấm dứt việc khai thác nước ngầm; các giải pháp trữ nước mưa ở thành phố, ở vùng sản xuất để dùng cho sinh hoạt nhằm giảm thiểu úng ngập, giảm khai thác nước ngầm, nhằm phát triển bền vững Nông, Lâm, Thuỷ sản và dân sinh một cách bền vững được thể hiện tóm tắt trong báo cáo.

  1. Quản lý lũ

Theo tính toán sơ bộ, nếu quản lý lũ theo cách lên đê cục bộ như hiện nay, để chống ngập úng cho các đô thị, thị trấn và bảo vệ sản xuất tương ứng với con lũ năm 2000, chúng ta cần phải XD thêm 20.000km đê bao, diện tích chiếm đất khoảng 310 km2, với vốn đầu tư 170.000 tỷ đồng, đưa tổng chiều dài đê bao ở ĐBSCL lên là 57.000 km. MN lớn nhất trong đồng vùng ĐTM tăng lên khoảng 13-14 cm, vùng TGLX tăng lên 7-8 cm. Thời gian ngập lũ kéo dài thêm 4-5 ngày. Khi NBD thêm 20cm, ngoài việc phải nâng cấp 57.000km đê bao, còn phải XD mới đê bao với tổng chiều dài đê sẽ là 87.000km (tăng thêm 30.000km), vốn đầu tư tăng thêm 110.000 tỷ đồng. Khi NBD thêm 50cm, tổng chiều dài đê bao sẽ là 98.000 km (tăng thêm 11.000km), vốn đầu tư cần tăng thêm 66.000tỷ đồng. Ngoài việc chúng ta phải đầu tư rất nhiều kinh phí, mất rất nhiều đất canh tác, hệ thống đê bao cục bộ chủ yếu do dân tự làm trên nền không được khảo sát, thân đê không được đầm nén, vị trí tuyến đê rất sát với bờ sông, bờ kênh, nên sẽ tiếp tục sụt lún và bị xói lở trong những năm tới. Nếu kể đến sự thiếu hụt phù sa do hậu quả của hệ thống hồ chứa thủy điện ở thượng lưu, gây nên tình trạng xói lở gia tăng ở ven sông, ven kênh sẽ tiếp tục uy hiếp sự an toàn của các tuyến đê.

Để khắc phục tình trạng domino sẽ xảy ra trong quản lý lũ, nhằm khai thác được các lợi ích của lũ, nhưng hạn chế được những thiệt hại do lũ lớn cực đoan. Để đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài trong quản lý lũ, kể cả đối với bài toán cực đoan, chúng tôi đề xuất chuyển đổi từ phương châm "sống chung với lũ" sang phương châm "Chủ động sống chung với lũ". Điều này đã được Chính phủ đưa vào nghị quyết số 120 về ĐBSCL.

Quản lý lũ theo phương châm "sống chung với lũ": Để đáp ứng tiêu chí quản lý lũ đã nêu, chúng ta phải tiếp tục xây dựng các hệ thống đê bao cục bộ nhỏ lẻ để bao vệ các thành phố, thị trấn, làng mạc và các khu công nghiệp; Xây dựng hệ thống đê bao cục bộ để bảo vệ sản xuất; Xây dựng hệ thống trạm bơm tiêu chống ngập úng do mưa cho các đô thị, khu dân cư đã được bao đê, xây dựng trạm bơm tiêu để tiêu nước cuối vụ lũ để kip gieo trồng cho những năm lũ muộn và khi NBD thời gian ngập lũ sẽ dài thêm. Hàng năm cần kinh phí để vận hành, duy tu bảo dưỡng và nâng cấp các công trình đã xây dựng như đê bao, trạm bơm.

Quản lý lũ theo phương châm "Chủ động sống chung với lũ": "Chủ động sống chung với lũ" là chủ động đưa lũ vào ruộng vườn để khai thác tất cả những lợi ích từ lũ mang lại như: vệ sinh đồng ruộng và cải đạo đất, lấy phù sa để bồi bổ đất và nâng cao mặt đất, lấy nước ngọt, bổ cập nước ngầm, giữ gìn sự đa dạng sinh học và khai thác nguồn lợi thủy sản... Nhưng với những trận lũ lớn cực đoan, đỉnh lũ trong đồng sẽ được kiểm soát để không gây ngập các cụm tuyến dân cư, các khu dân cư, các thành phố, phá hoại các cơ sở hạ tầng, đe dọa đến tính mạng và tài sản của nhân dân. Để kiểm soát đỉnh lũ, chúng ta chỉ cần một hệ thống đê (đường giao thông hiện có) dọc hai sông lớn, nhánh sông và một hệ thống cống, bao gồm cống và âu thuyền. Cống được thiết kế rộng bằng mặt cắt kênh, được mở thường xuyên để nước chảy và phục vụ giao thông thủy. Cống chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát đỉnh lũ với những trận lũ lớn cực đoan, hạn chế những trận lũ sớm để bảo vệ vụ lúa hè thu và đóng cống cuối vụ để tiêu nước trong đồng đối với những năm lũ muộn. Âu thuyền phục vụ giao thông thủy khi cống làm nhiệm vụ kiểm soát lũ. Như vậy chúng ta không cần tiếp tục xây dựng thêm đê để bảo vệ các thành phố, các làng ấp, không cần đê chống lũ hai vụ, không cần kinh phí để nâng cấp, duy tu bảo dưỡng hệ thống đê trong nội đồng và các cơ sở hạ tầng kỹ thuật sau mỗi năm lũ lớn. Không cần xây dựng các hệ thống trạm bơm tiêu cho các đô thị, các làng ấp, không cần bơm tiêu nước lũ vào những năm lũ rút muộn. 

Phương châm chủ động sống chung với lũ, được xem như là giải pháp tổng thể để giải quyết triệt để vấn đề quản lý lũ thượng nguồn, đáp ứng được yêu cầu bức bách trước mắt, đồng thời cũng là công trình chống nước biển dâng, chống biến đổi khí hậu ở thế chủ động. Lũ sẽ không gây bất kỳ ảnh hưởng nào tới dân cư, sản xuất và hạ tầng. Tất cả lợi ích khai thác từ lũ không thay đổi. Tổng chiều dài đê chống lũ chỉ còn 1.200 km. Phương án đáp ứng được việc quản lý lũ ứng với bài toán lũ cực đoan - khi có công trình kiểm soát lũ ở Biển Hồ.  

  1. Quản lý xâm nhập mặn và thiên tai

Vào những năm kiệt, diện tích bị xâm nhập mặn ở ĐBSCL chiếm diện tích khoảng 1,6-1,8 triệu ha, gây ra những tác động lớn đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Trong thời gian tới, sự suy giảm dòng chảy mùa kiệt từ thượng lưu tất yếu sẽ xảy ra do suy giảm diện tích rừng, phát triển KT-XH, BĐKH và thủy điện. Thủy điện và vấn đề quản lý các hồ chứa thủy điện trong điều kiện bình thường sẽ làm lưu lượng bình quân mùa kiệt tăng, bình quân mùa lũ giảm. Tuy nhiên do mục tiêu quản lý nhằm đem lại sản lượng điện cao nhất, nên sẽ làm lưu lượng kiệt trong những năm kiệt sẽ giảm bất thường. Với các kịch bản suy giảm dòng kiệt, sự xâm nhập mặn trên dòng chính càng gia tăng, để đảm bảo sự phát triển bền vững của ĐB cần nghĩ đến giải pháp ngăn sông lớn. Kịch bản cực đoan được tính toán khi Biển Hồ có cống điều tiết mực nước, ĐB không thể đủ nước trong mùa kiệt, cần nghĩ đến việc XD các hồ chứa ven biển để trữ nước.

- Xem xét việc xây dựng các cống lớn ngăn các cửa sông để trữ nước và ngăn chặn việc xâm nhập mặn ở tất cả các của sông có cống. Nếu cửa sông Hậu bỏ ngỏ, giao thông thuỷ thuận lợi, nhưng MN trên sông Hậu không được dâng cao nhiều, việc cung cấp nước cho vùng Bán đảo Cà Mau gặp khó khăn, cần nghĩ đến giải pháp cung cấp bằng động lực.

- Kịch bản cực đoan được xem xét khi Biển Hồ được quản lý bởi cống điều tiết trên sông Tonle Sap, sẽ làm giảm khả năng điều tiết hồ cuối mùa kiệt và khu vực đỉnh lũ. Lưu lượng mùa kiệt giảm từ Biển Hồ về dòng chính là 250m3/s. Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thiếu nước ngọt khi NBD thêm 50 cm và bỏ ngỏ của sông Hậu. Khi đó cần phải nghĩ đến các giải pháp trữ nước ở một số hồ chứa lớn ven biển như Vũng Tàu-Gò Công và Kiên Giang.

- Vùng ven biển của ĐB có nhiều lợi thế về phát triển về nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên do chưa được quy hoạch nuôi trồng theo hướng công nghiệp, chưa có đường cấp và thoát riêng, dẫn đến dịch bênh, ô nhiễm môi trường vùng nuôi, nên năng suất và sản lương bấp bênh, không bền vững gây tổn thất cho người nuôi trồng, nhiều vùng đất đã trở nên suy thoái và hoang hóa.

- Do chưa có quy hoạch cấp nước chủ động cho vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và chất  nước không tốt, nên người nuôi trồng đã khai thác nước ngầm quá mức, dẫn đến sự lún sụt đất rất nghiêm trọng ở đồng bằng. Tốc độ lún sụt đất gấp 7-10 lần so với tốc độ NBD theo kịch bản trung bình. Giải quyết vần đề cấp nước ngọt chủ động cho vùng nuôi trồng thủy sản là một nhu cầu cấp bách tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững vùng nuôi, đồng thời khắc phục được nguyên nhân chính gây lún sụt đất.

- Chính phủ Việt Nam đã có QĐ kịp thời về phân vùng bão, bão cấp 12-13 có thể vào ĐBSCL. Với cấp bão này đổ bộ vào ĐBSCL-một đồng bằng trũng thấp và bằng phẳng vẫn gây ra hiện tương nước dâng khoảng 1,5-2m vào sâu trong đất liền tới 6-10 km và sẽ gây ra những thiệt hại không lường. Trong điều kiện BĐKH những trận bão lớn hơn và siêu bão có thể xuất hiện. Sóng thần cũng là một dạng thiên tai không được loại trừ Việt Nam. Vì vậy cần có các giải pháp bền vững nhằm giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản của người dân.

- Để quản lý, giảm thiểu thiệt hai do NBD, nước dâng do bão lớn, siêu bão, sóng thầnvào ĐBSCL, ý tưởng hình thành tuyến đê biển thứ 2 khá thuyết phục. Tuyến đê biển thứ 2, ngoài nhiệm vụ ngăn chặn những nguy cơ do NBD, ngăn chặn nước dâng do bão, siêu bão và sóng thần, còn có nhiệm vụ phân ranh mặn ngọt và kết hợp xây dựng các cơ sở hạ tầng khác. Phân ranh mặn ngọt, hướng tới một vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, chuyên canh theo hướng nuôi công nghiệp là một nhu cầu cấp thiết trong vùng.

- Vị trí tuyến đê biển thứ 2 được xác định dựa vào tiêu chí: Phải đảm bảo tính mạng, tài sản và sản xuất của người dân ở bên trong tuyến đê thứ 2, trước nước dâng do bão lớn cấp 12-13; là nơi có thể phân được ranh mặn ngọt; phù hợp với các giải pháp cấp ngọt, cấp mặn và thoát nước để nuôi trồng thủy sản bền vững; phù hợp diện tích quy hoạch nuôi trồng thủy sản của Bộ NN&PTNT và các địa phương trong vùng; phù hợp và phối hợp với việc xây dựng các cơ sở hạ tầng khác ở trong vùng. Với tiêu chí trên, tuyến đê biển thứ 2 nên bố trí cách xa tuyến đê biển số 1 với khoảng cách 5-6,5km. Kịch bản siêu bão (bão lớn hơn cấp 13) và sóng thần có thể dùng để kiểm tra sự an toàn của tuyến đê thứ 2 khi thiết kế.

- Bên trong tuyến đê biển thứ 2, là nơi quy hoạch bố trí dân cư trước mắt và lâu dài. Giữa hai tuyến đê biển là vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, theo hướng công nghiệp và trồng rừng. Nước ngọt cung cấp vùng nuôi trồng thủy sản được lấy từ bên trong tuyến đê thứ 2, nước mặn được lấy từ biển.

- Ở vùng nuôi trồng thủy sản ở giữa hai tuyến đê, do độ dốc địa hình thấp và kênh không quá dài, nên việc cấp nước mặn và nước ngọt có thể được thực hiện trên cùng tuyến kênh (cũng có thể tách rời). Nước ngọt được lấy từ phía trong tuyến đê thứ 2, nước mặn lấy từ biển. Kênh tháo (kênh thải) của khu nuôi trồng là riêng biệt và cũng chính là hệ thống kênh thoát lũ và tiêu úng cho diện tích bên trong và bên ngoài tuyến kênh thứ 2.

- Đối với khu vực nuôi trồng thủy sản thuộc tỉnh Cà Mau, không đủ điều kiện để cấp nguồn nước ngọt từ sông một cách chủ động, vì vậy cần nghiên cứu giải pháp trữ nước để giảm việc khai thác nước ngầm ở các vùng nuôi trồng thủy (xin xem phần trữ nước).

  1. Giải pháp trữ nước ở đồng bằng và đô thị

- Quản lý, hạn chế việc khai thác nước ngầm ở đồng bằng và các đô thị, không chỉ là đảm bảo cho phát triển bền vững mà nó đã trở thành vấn đề sống còn của đồng bằng và các đô thị. Việc giải quyết cấp nước ngọt cho các vùng sản xuất là nhiệm vụ cấp thiết, tuy nhiên theo tính toán sơ bộ về cân bằng nước, thì lượng nước ngọt trong mùa kiệt không thể đủ cung cấp cho toàn bộ đồng bằng, đặc biệt trong những trường hợp cực đoan đã được phân tích ở trên như việc Campuchia xây dựng công trình để quản lý lũ, kiệt và phát điện ở sông Tonle Sap. Vì vậy để chủ động nguồn nước ngọt việc nghiên cứu trữ nước ở một số vùng xa nguồn nước ngọt là cần thiết. Ngoài việc xem xét chứa nước quy mô nhỏ ở các khu sản xuất, cần xem xét việc trữ nước lớn hơn như ở rừng U Minh và các hồ chứa ven biển như Vũng Tàu-Gò Công và Hồ Kiên Giang.

- Giải quyết vấn đề úng ngập do mưa, và vấn đề lún sụt đất ở các đô thị là một nhu cầu bức bách ở các thành phố khu vực ĐBSCL. Trong hơn 20 năm qua lượng mưa ngày lớn nhất ở khu vực Tp.HCM và các tỉnh ĐBSCL đã gia tăng ở mức rất đáng quan tâm. Lượng mưa trận ở Tp.HCM và ĐBSCL với tần suất từ 5-10% ở tất cả các trạm đều gia tăng từ 10-20mm so với trước 1990, tương đương với mức thay đổi 9-17,5%. Với sự gia tăng lượng mưa lớn nhất như vậy, hệ thống cống rãnh hầu hết được thiết kế từ lâu nên không đủ năng lực tiêu thoát nước mưa hiện nay. Vì vậy nghiên cứu giải pháp chống ngập do mưa cho các đô thị bằng giải pháp bể chứa nước mưa nhằm làm giảm dòng chảy do mưa là rất cần thiết và thiết thực. Hầu hết các thành phố ở khu vực ĐBSCL đều ở tình trạng khai thác nước ngầm quá mức gây lún sụt Tp. ở mức nghiêm trọng, vì vậy các bể chứa nước mưa nhằm chống ngập, kết hợp cung cấp nước sinh hoạt cho các đô thị sẽ đem lại sự phát triển bền vững ở các đô thị.

- Ở các khu đô thị có quỹ đất, thì cần dành diện tích cho các hồ điều hòa khoảng 4 % tổng diện tích khu đô thị, các hồ được bố trí xen kẽ các khu dân cư, có sự kết nối với hệ thống tiêu thoát nước bằng các cống điều khiển tự động.

- Ở các khu đô thị mới, nếu dành quỹ đất 10% để xây dựng hồ sẽ đạt được các mục tiêu như sau:

+ Đủ đất san nền, không cần lấy cát từ sông;

+ Không bị ung ngâp do mưa;

+ Ở những nơi ven biển, dung nước từ hồ để cấp nước sinh hoạt, không cần khai thác nước ngầm;

+ Hồ nước có tác dụng cải tạo vi khí hậu;

+ Sử dụng 50% diện tích mặt hồ để bố trí năng lượng mặt trời, thì công suất điện tăng thêm trên 50% so với đặt trên mặt đất. Lượng điện năng thừa cung cấp cho khu dân cư với mật đọ xây dựng dưới 50% và chiều cao từ 6 tầng trở xuống.

- Trữ nước cho nuôi trồng Thuỷ sản: Do lượng nước cấp đầu vụ nuôi là rất lớn, nên cần đảm bảo nguồn cấp nước cả mặn lẫn ngọt từ hệ thống thủy lợi cho bể nuôi và bể trữ nước ngọt ngay từ đầu vụ nuôi (cuối vụ mưa). Nghiên cứu chỉ xác định khả năng đảm bảo cấp nước ngọt để pha loãng đảm bảo nồng độ ao nuôi (đủ để cấp bù do thấm và bốc hơi trong quá trình nuôi). Tổng lượng nước cần cấp bù cho 1 ha diện tích nuôi trồng thủy sản dao động trong khoảng 2200 m3/ha đến 3900 m3/s, lượng nước ngọt cần cấp bù sẽ dao động trong khoảng 1100 m3/ha đến 1950 m3/ha, bình quân là 1656 m3/ha. Như vậy 1 ha nuôi trồng thủy sản cần bố trí một diện tích vào khoảng 600 m2 đến 1100 m2 để xây dựng bể chứa, tương đương với 6% đến 11% diện tích khu nuôi.