Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam 10 năm qua và định hướng chính sách trong thời gian tới

Ban Kinh tế Trung ương trân trọng giới thiệu một số bài tham luận tại Hội thảo chuyên đề 1: "Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững vì một Việt Nam thịnh vượng" trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc và Triển lãm quốc gia về thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Bài 4: Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam trong 10 năm qua và định hướng chính sách trong thời gian tới

                                                                                        Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn

 

1. Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam 10 năm qua

1.1. Thành tựu

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, khóa X về nông nghiệp nông dân nông thôn, nông nghiệp nông thôn Việt Nam đã thay đổi đáng kể về cơ sở hạ tầng, nông nghiệp phát triển, đời sống người dân cũng được cải thiện. Về nông nghiệp, đã thực hiện tái cơ cấu, xây dựng nên nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Giai đoạn 2008 – 2017, tốc độ tăng trưởng GDP ngành đạt 2,66%/năm, giá trị sản xuất tăng 3,9%/năm. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế, phù hợp với nhu cầu thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Cơ cấu kinh tế nông thôn tiếp tục chuyển đổi theo hướng tăng nhanh công nghiệp và dịch vụ. Công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản được đầu tư theo hướng phát triển chế biến sâu, chế biến tinh. Xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng nhanh, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy nông nghiệp hàng hóa. Tổng kim ngạch xuất khẩu 10 năm (2008-2017) đạt 261,28 tỷ USD, tăng bình quân 9,24%/năm.

Về nông dân, thông qua các mô hình phát triển sản xuất, hỗ trợ người nghèo, địa phương nghèo đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển giao KHKT, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm nhanh, năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn còn 8%. Chương trình đào tạo nghề 1956 cho lao động nông thôn gắn đào tạo nghề với cơ cấu lại ngành, xây dựng nông thôn mới, tăng cường đào tạo nông dân nòng cốt, đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường. Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã ban hành 136 chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn về nông nghiệp, giai đoạn 2010-2017 đã có gần 1,5 triệu lao động nông thôn được đào tạo nghề nông nghiệp (gấp 1,7 lần so với năm 2010).

Về nông thôn, sau 7 năm thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, kết cấu hạ tầng nông thôn đã từng bước được cải thiện, huy động được nguồn lực cộng đồng tham gia xây dựng nông thôn mới. Đến năm 2017, cả nước có 3069 xã (34,4%) đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân đạt 13,7 tiêu chí/xã, bình quân đạt 13,7 tiêu chí/xã, có 43 đơn vị cấp huyện thuộc 24 tỉnh, thành phố trực thuộc TW đạt chuẩn nông thôn mới.

Kinh tế hộ gia đình ở nông thôn tiếp tục phát triển theo cơ chế thị trường và có sự chuyển dịch hiệu quả hơn. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, cơ cấu kinh tế nông thôn đã chuyển đổi tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, từ 59% năm 2008 lên 65% năm 2017. Năm 2017, số hộ làm nông lâm thủy sản chiếm 53,7% (năm 2011 là 62,2%),  số hộ gia đình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, hàng hóa và tham gia liên kết khá phổ biến. Kinh tế trang trại phát triển khá, năm 2017 có trên 35,5 nghìn trang trại, tăng 50,8% so với 2013. Các hợp tác xã được tổ chức lại kiểu mới và thành lập mới theo luật HTX, năm 2017 có khoảng 11,7 nghìn hợp tác xã nông nghiệp.

Doanh nghiệp nông nghiệp tăng từ 2397 năm 2007 lên 7033 năm 2017, nhiều doanh nghiệp trở thành nòng cốt của chuỗi giá trị và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, phát triển thị trường. Cả nước có 579,3 nghìn ha cánh đồng lớn, nhiều địa phương đã xác định những sản phẩm chủ lực, hình thành vùng chuyên canh có giá trị kinh tế cao theo mô hình này. Giai đoạn 2008-2017, đã xuất hiện nhiều mô hình liên kết sản xuất, chế biến, dịch vụ có hiệu quả trong nông nghiệp và ở nông thôn, nhiều tập đoàn kinh tế lớn đã đầu tư vào các chuỗi nông sản từ sản xuất đên tiêu thụ như rau an toàn, hoa quả, cà phê, chè, thủy sản, vv. Cả nước đã hình thành được 818 chuỗi nông sản an toàn thực phẩm, phân phối 1380 sản phẩm tại 3080 địa điểm. Nông dân đã phát huy vai trò chủ thể, tích cực thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, tham gia chuỗi giá trị nông sản, nhất là trong xây dựng nông thôn mới.

Những thành tựu này có được một phần là nhờ những chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời mà điển hình là Nghị quyết số 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Ngoài ra, có Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một nhiệm vụ trọng tâm được Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đề ra, với mục tiêu xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường. Để cụ thể hóa mục tiêu này, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM và Quyết định số 800/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, trong đó có nhiệm vụ phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại theo hướng gia trại, trang trại có quy mô phù hợp, sản xuất hàng hóa lớn. Về nông nghiệp, Chính phủ đã ra Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Theo đó, Bộ NN&PTNT đã xây dựng 6 Đề án tái cơ cấu các lĩnh vực nhằm cụ thể hóa nội dung, giải pháp và lộ trình tái cơ cấu trong từng lĩnh vực/phân ngành cụ thể, bao gồm: Trồng trọt, Chăn nuôi, Lâm nghiệp, Thủy sản, Thủy lợi, Chế biến nông lâm thủy sản và muối.

Quốc hội cũng đã thông qua Luật Đất đai năm 2013 vào 29/11/2013 thay thế Luật Đất đai 2003, mở rộng thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đáp ứng yêu cầu tích tụ đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại phù hợp với đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn, cho phép hộ gia đình, cá nhân tích tụ với diện tích lớn hơn (không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp.

Để tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã (HTX) hoạt động hiệu quả, vững chắc, Luật HTX năm 2012 sửa đổi Luật HTX năm 2003 có hiệu lực từ 01/7/2013 đã quy định rõ bản chất của tổ chức HTX. Ngoài HTX, hình thức nhóm hợp tác, câu lạc bộ, nhóm liên kết (gọi chung là Tổ hợp tác -THT) được thành lập và hoạt động theo quy định của Nghị định 151/2007/NĐ-CP.

Xác định doanh nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị nông sản và sự phát triển của ngành, Đảng, Chính phủ đã và đang có nhiều chủ trương và chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, từ Nghị định 61/2010/NĐ-CP về thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nhằm cụ thể hóa chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp khi có dự án đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, Nghị định 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn thay thế Nghị định 61 và Nghị định 57/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 210 đã giảm tối đa các hỗ trợ trực tiếp (bằng tiền), điều chỉnh các mức hỗ trợ để tăng sức hấp dẫn đối với doanh nghiệp nhưng phù hợp khả năng cân đối ngân sách nhà nước và cơ chế thị trường, chỉ hỗ trợ một phần trong tổng mức đầu tư nhằm tạo trách nhiệm đầu tư hiệu quả của đồng vốn, ngăn ngừa trục lợi chính sách.

Hoạt động đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn được quy định tại Nghị định số 15/2015/NĐ-CP (đi kèm với Thông tư 14/2017/TT-BNNPTNT ngày 05/07/2017 hướng dẫn thực hiện về đầu tư theo hình thức đối tác công tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn). Ngày 4/5/2018 Chính phủ ban hành Nghị định 63/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định 15, quy định rõ hơn về thẩm quyền, trình tự, thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư đối với dự án PPP, nhiều thủ tục được đơn giản hóa, rút ngắn giai đoạn chuẩn bị đầu tư nhằm mục tiêu tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các dự án PPP. 

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 30-NQ/TW năm 2014 về tiếp tục sắp xếp đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông lâm nghiệp. Thực hiện Nghị quyết 30, Chính phủ ban hành Nghị định 118/2014/NĐ-CP về sắp xếp đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông lâm nghiệp, các địa phương, doanh nghiệp đã xây dựng được Phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) đã thẩm định, đề xuất Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

1.2. Khó khăn

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu nhất định trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, khu vực nông nghiệp nông thôn vẫn còn nhiều khó khăn đang và sẽ phải đối mặt. Tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam thời gian gần đây có xu hướng chậm lại, giảm từ trên 3% giai đoạn 2008-2010, còn 2,8% trong giai đoạn 2011-2015 và chỉ còn 2,1% trong giai đoạn 2015-2017. Quá trình phát triển nông nghiệp vẫn có nhiều yếu tố thiếu bền vững, thâm dụng tài nguyên, những yếu kém nội tại đã được khắc phục nhiều từ khi thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp nhưng còn chậm chưa đáp ứng được đòi hỏi của nền sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn và tiêu chuẩn cao từ thị trường quốc tế. Đồng thời, các nguồn lực cho tăng trưởng nông nghiệp có xu hướng suy giảm: đất đai manh mún, phân tán; nguồn nước tưới phục vụ cho nông nghiệp ngày càng hạn hẹp nhất là trong mùa khô; tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp giảm, tỷ trọng đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp còn thấp so với các ngành công nghiệp, dịch vụ; lao động trẻ khỏe rút ra nhiều khỏi nông nghiệp tham gia vào thị trường lao động không chính thức, thu nhập thấp và rủi ro cao. Năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp có xu hướng suy giảm so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Tốc độ phát triển chế biến nông lâm thủy sản chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu, cơ cấu sản phẩm chế biến chưa hợp lý, đóng góp của công nghiệp chế biến vào gia tăng giá trị chưa cao, tỷ lệ nông sản được chế biến sâu hoặc bằng công nghệ cao còn thấp, doanh nghiệp tham gia chưa nhiều, công nghệ bảo quản sau thu hoạch chưa đáp ứng được nhu cầu tăng sản xuất.

Về nông dân, tỷ trọng lao động nông nghiệp còn cao so với tổng lao động xã hội, vẫn còn tới 21,6 triệu lao động làm việc trong khu vực nông lâm thủy sản (giảm từ 51,8% năm 2008 xuống 45,5% năm 2013 và 40,1% năm 2017), do đó năng suất lao động nông nghiệp mặc dù được cải thiện (năm 2017, năng suất lao động nông nghiệp là 35,5 triệu đồng/lao động), nhưng chỉ bằng 38,1% so với năng suất lao động chung của nền kinh tế, bằng 29,4% NSLD khu vực công nghiệp,  và bằng 31,3% NSLD khu vực dịch vụ. Chất lượng lao động còn thấp, tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo chỉ đạt khoảng 34%. Chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp nông thôn đã được cải thiện hơn nhưng hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu của nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn và hội nhập quốc tế, tỷ lệ lao động NT qua đào tạo có chứng chỉ và sơ cấp nghề trở lên chỉ tăng từ 11,16% năm 2011 lên 15,87% năm 2016.  Nếu tỉnh cả số qua đào tạo nhưng không có bằng, chứng chỉ thì tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo cũng chỉ tăng từ 15,45% năm 2011 lên 34, 11% năm 2016. Thu nhập và đời sống người dân nông thôn đã được cải thiện nhưng còn thấp, chênh lệch với khu vực đô thị có xu hướng doãng rộng ra.

Về nông thôn, cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch chưa đáp ứng được được yêu cầu CNH, HĐH, công nghiệp và dịch vụ phát triển chưa đủ mạnh để hút khu vực nông nghiệp chuyển dịch nhanh hơn. Vấn đề môi trường nông thôn đang ngày càng có dấu hiệu nghiêm trọng ở một số địa bàn. Kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập so với yêu cầu của nền sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, cạnh tranh quốc tế và biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp. Khu vực nông thôn vẫn hàm chứa những thành tố phát triển chưa bền vững, thu nhập và đời sống của một bộ phận nông dân còn thấp, nhất là ở miền núi, các xã bãi ngang. Dù đến hết năm 2017 cả nước đã có 34,4% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nhưng khoảng cách chênh lệch về kết quả xây dựng nông thôn mới giữa các vùng, miền vẫn còn khá lớn; trong khi một số địa phương cơ bản hoàn thành xây dựng nông thôn mới để chuyển sang giai đoạn nâng chất lượng và xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, thì một số địa phương chỉ có ít xã đạt chuẩn.

Khu vực công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn phát triển chưa đủ lớn về quy mô, mạnh về khả năng tạo việc làm, dẫn đến lao động nông nghiệp dư thừa, thiếu việc làm đang tạo sức ép lớn đối với khu vực nông thôn. Việc đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất hàng hóa lớn, tập trung: kinh tế hộ vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số hộ ở nông thôn (chiếm 53,9%), quy mô sản xuất hộ nhỏ lẻ (trung bình chỉ đạt 0,18ha/thửa và 2,5 thửa/hộ) khó phát triển tập trung đất đai hình thành vùng nguyên liệu cho sản xuất lớn, ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ cao và cơ giới hóa, ảnh hưởng đến khả năng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Doanh nghiệp nông nghiệp còn ít (chiếm dưới 1% so với tổng số doanh nghiệp cả nước), quy mô nhỏ, năng lực tài chính thấp, hiệu quả hoạt động chưa cao. Liên kết sản xuất giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị chưa phổ biến để thúc đẩy cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ cao giảm chi phí trung gian, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp.

Chính sách về huy động các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp, nông thôn chưa đủ mạnh. Đầu từ từ ngân sách nhà nước còn hạn chế, thấp hơn nhiều so với yêu cầu, chưa đạt mục tiêu của Nghị quyết. Sự kết nối giữa chiến lược phát triển công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp, giữa đô thị và nông thôn chưa đủ mạnh để kéo nông nghiệp, nông thôn, nông dân phát triển hiện đại. Một số mục tiêu trong Nghị quyết khá cao (ví dụ tốc độ tăng trưởng ngành, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, vv) do thời điểm xây dựng nghị quyết  trong bối cảnh nền kinh tế cả nước và nông nghiệp có nhiều thuận lợi, tốc độ tăng trưởng đạt cao. Chương trình tái cơ cấu được triển khai nhưng còn nhiều hạn chế. Chính sách đất đai cho phát triển nông nghiệp nông thôn còn nhiều vướng mắc như: Đối tượng nhận chuyển nhượng đất bị hạn chế, đặc biệt đối với đất lúa chỉ giới hạn cho hộ nông nghiệp; đa số các chủ trang trại gặp khó khăn ở việc xác nhận, chứng nhận và cấp sổ đỏ sau trao đổi mua bán khi phải mua quyền sử dụng đất từ nhiều đối tượng khác nhau với nhiều loại đất khác nhau; doanh nghiệp hay người dân đầu tư tài sản lớn trên đất nông nghiệp không được bảo đảm một cách chắc chắn và có nguy cơ thiệt hại khi Nhà nước chuyển đổi mục đích sử dụng đất, vv... Bên cạnh đó, các chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư còn nhiều vướng mắc trong thực hiện, chưa đủ động lực để thu hút đầu tư. Một số cơ chế, chính sách tạo điều kiện thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai phát triển sản xuất nông nghiệp, hàng hóa tập trung, quy mô lớn chưa được ban hành hoặc chậm sửa đổi, bổ sung.

2. Dự báo bối cảnh tình hình mới

Bên cạnh những thuận lợi, cơ hội, nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta hiện nay và thời gian tới sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: Những hạn chế, yếu kém nội tại của nền sản xuất nhỏ, chậm được khắc phục; Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp; các nguồn lực cho tăng trưởng sẽ ngày càng khan hiếm, đắt đỏ; Ô nhiễm môi trường và các mối nguy cơ về ô nhiễm môi trường, tài nguyên (đất, rừng, nước, biển) ngày càng lớn và phức tạp hơn; áp lực cạnh tranh các nguồn lực tự nhiên, đặc biệt là đất và nước vốn đang dành cho sản xuất nông nghiệp và cạnh tranh từ hội nhập quốc tế.

2.1. Hội nhập quốc tế và nhu cầu thị trường nông sản thay đổi

Xu hướng hội nhập đang được mở rộng, thúc đẩy thương mại và đầu tư thông qua việc dỡ bỏ các rào cản. Hội nhập sẽ giúp nông nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường, tăng kim ngạch xuất khẩu và thu hút dòng vốn FDI. Theo dự báo của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD, nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng nông sản trên thế giới trong giai đoạn tới tiếp tục tăng lên. Cùng với tăng trưởng về tổng cầu, cơ cấu nhu cầu cũng thay đổi cùng với tăng trưởng thu nhập theo hướng giảm ăn ngũ cốc, tăng sản phẩm chăn nuôi, thủy sản, rau quả… Ở mức độ phát triển cao hơn, người tiêu dùng có xu hướng sử dụng ngày càng nhiều sản phẩm thân thiện với môi trường, an toàn và có lợi cho sức khỏe con người nông sản hữu cơ, hàng hóa theo tiêu chuẩn bền vững với môi trường, hàng hóa có trách nhiệm xã hội

Tuy nhiên, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng đặt ra các tiêu chuẩn rất cao về thương mại và đầu tư, và đi kèm với nó sự quay trở lại của chủ nghĩa bảo hộ thương mại buộc nông nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh khốc liệt với các đối thủ cạnh tranh có thế mạnh vượt trội về vốn, trình độ KHCN, khả năng quản lý và khả năng tiếp cận thị trường. Hội nhập cũng làm cho nông sản Việt Nam chịu áp lực gia tăng cạnh tranh tại thị trường thế giới và thị trường nông sản trong nước. Điều đó đòi hỏi phải không ngừng cải thiện, nâng cao trình độ KHCN và khả năng cạnh tranh để cạnh tranh công bằng trong hội nhập quốc tế.

2.2. KHCN ngày càng phát triển, nhất là công nghệ 4.0

KHCN đang có bước phát triển vượt bậc, đặc biệt với cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ IV với công nghệ số (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, internet vạn vật, điện toán đám mây), công nghệ viễn thám, công nghệ sinh học, vật liệu mới, robot, công nghệ in 3D, năng lượng tái tạo mở ra tiềm năng phát triển mới cho tất cả các ngành, trong đó có nông nghiệp ở tất cả các quy mô khác nhau, với khả năng nhanh chóng truyền tải các thành quả nghiên cứu công nghệ mới vào ứng dụng trong sản xuất. Các tiến bộ KHCN tiên tiến mở ra cơ hội cho ngành nông nghiệp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, quản lý sản xuất, nâng cao năng suất, an toàn vệ sinh thực phẩm và giá trị gia tăng cho sản phẩm. Đồng thời, các tiến bộ cũng giúp cơ giới hóa, tự động hóa, giải phóng sức lao động. Đặc biệt, các tiến bộ này có thể tạo hướng đi mới để thay đổi thể chế tổ chức sản xuất từ cách thức liên kết nông dân, cách thức liên kết quản lý chuỗi giá trị, vốn là điểm nghẽn khó xử lý của quá trình đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp ở Việt Nam. Bên cạnh đó, với các tiến bộ của KHCN ngày càng sử dụng ít lao động, nguy cơ một lực lượng lớn mất việc và quay trở lại nông nghiệp nông thôn cần phải được tính đến trong dài hạn. Trong khi đó, bản thân ngành nông nghiệp nông thôn đang đẩy nhanh quá trình tích tụ ruộng đất và ứng dụng công nghệ cũng sẽ có ít nhu cầu lao động hơn, khó có thể thu nhận lại lực lượng lao động trở về này.

2.3. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ

Tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) tới nông nghiệp và nông thôn sẽ ngày càng gia tăng và rõ rệt hơn. Theo kịch bản BĐKH 2016 (Bộ Tài nguyên và Môi trường), nhiệt độ ở tất cả các vùng của Việt Nam đều có xu thế tăng, lượng mưa năm cũng tăng tuy nhiên lượng mưa mùa khô ở một số vùng lại giảm, hạn hán có thể trở nên khắc nghiệt hơn ở một số vùng do nhiệt độ tăng và khả năng giảm lượng mưa trong mùa khô như tại Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phân bố cây trồng, vật nuôi, đặc biệt làm giảm năng suất cây trồng và vật nuôi, gây thiệt hại lớn tới thu nhập và đời sống của người nông dân.

Một ảnh hưởng lớn khác của biến đổi khí hậu là nước biển dâng. Theo dự báo, mực nước biển sẽ dâng cao từ 50cm tới 100cm trong vòng 100 năm tới. Nếu nước biển dâng 1m, khoảng 16,05% diện tích đồng bằng sông Hồng; 1,47% diện tích các tỉnh ven biển miền trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận; 17,84% diện tích thành phố Hồ Chí Minh; 39,40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị ngập; gây mất đất ở và đất sản xuất của người dân. Nước biển dâng kết hợp với hạn hán sẽ gây ra hiện tượng xâm nhập mặn, điển hình là tình trạng xâm nhập mặn năm 2015-2016 tại đồng bằng sông Cửu Long đã gây ra thiệt hại hơn 20,000 tỷ đồng. Điều này cũng dẫn đến những làn sóng di cư bắt buộc, điển hình tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, dẫn đến những thay đổi kinh tế và xã hội của vùng.

Bên cạnh đó, diễn biến thời tiết đang ngày càng phức tạp hơn, tần suất và cường độ thiên tai ngày càng lớn hơn, hậu quả là mức độ ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân càng nghiêm trọng hơn. Diễn biến thời tiết cực đoan tăng, sự tàn phá của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ còn ảnh hưởng đến hạ tầng nông thôn, đe dọa đời sống, sức khỏe cộng đồng dân cư công thôn. Hệ thống cấp nước sinh hoạt, hệ thống giao thông nông thôn cũng bị ảnh hưởng, nhiều tuyến giao thông bị ngập lụt, xói lở mặt và nền đường.

3. Đề xuất một số định hướng chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới

3.1. Cơ cấu lạingành nông nghiệp

  • Cơ cấu lại sản xuất theo 3 nhóm sản phẩm: (i) Nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia (những sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ đô la Mỹ trở lên và thịt lợn, gia cầm) tại những vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, tổ chức hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị và ứng dụng KH&CN tiên tiến; (ii) Nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh, dựa trên lợi thế và điều kiện cụ thể của mỗi địa phương để quy hoạch và đầu tư theo hướng như đối với sản phẩm quốc gia nhưng quy mô cấp địa phương; có chiến lược và giải pháp để mở rộng quy mô, sức cạnh tranh để bổ sung vào nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; (iii) Nhóm sản phẩm vùng/miền là đặc sản của các địa phương, có chỉ dẫn địa lý cụ thể, nhưng có quy mô nhỏ, sẽ được xây dựng và phát triển gắn với xây dựng NTM ở xã theo mô hình "Mỗi làng, xã một sản phẩm".
  • Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ nông sản an toàn, từ chính sách đất đai, bảo hiểm đến cơ chế vay vốn. Tập trung nguồn ngân sách nhà nước cho đầu tư theo hình thức đối tác công – tư để phát triển hạ tầng kết nối nông thôn – đô thị, các trung tâm khoa học công nghệ nông nghiệp, cụm liên kết ngành nông nghiệp tại các vùng nông nghiệp trọng điểm. Có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với doanh nghiệp đầu tư, ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường trong các lĩnh vực sản xuất giống, vật tư, máy cơ khí, bảo quản, chế biến tinh, chế biến sâu nông, lâm, thủy sản. 
  • Củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về HTX nông nghiệp. Hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển HTX nông nghiệp. Các chính sách hướng đến thúc đẩy HTX tham gia sâu vào liên kết chuỗi giá trị, giúp HTX phát triển các hoạt động có giá trị gia tăng, khuyến khích các hộ nông dân tham gia HTX. Hỗ trợ HTX xây dựng thương hiệu sản phẩm và áp dụng các quy trình sản xuất có chứng nhận; ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất; giao cho HTX thực hiện một số dịch vụ công trong nông nghiệp như khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y, cùng với hỗ trợ cán bộ kỹ thuật cho các HTX; hỗ trợ và thúc đẩy các HTX liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị; tạo điều kiện thuận lợi cho HTX tiếp cận tín dụng thông qua việc cho phép sử dụng tài sản, vốn đầu tư dự án của HTX, quyền sử dụng đất giao cho HTX làm tài sản thế chấp.
  • Phát triển thương hiệu cho những sản phẩm đạt chất lượng tốt và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua xây dựng khung pháp lý nhằm công nhận và bảo vệ sở hữu trí tuệ; buộc nhà sản xuất phải tuân thủ một số quy trình sản xuất, với mục tiêu bảo vệ các lợi ích xã hội, môi trường hay uy tín/nhãn hiệu. Phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp và hiệp hội để xây dựng và đẩy mạnh các chương trình xây dựng thương hiệu quốc gia đối với hàng nông, lâm, thủy sản. Đầu tư nguồn nhân lực, kết nối việc phát triển thương hiệu của nhà sản xuất với các chương trình tiếp thị về di sản văn hóa, du lịch, ngoại giao, môi trường sinh thái, cảnh quan.
  • Đẩy mạnh tín dụng cho vay theo chuỗi giá trị nông nghiệp: (i) Hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cung ứng đồng bộ các sản phẩm dịch vụ tài chính mới (như quản lý tiền mặt, quản lý tài sản, bảo hiểm thanh toán, bảo hiểm nhân thọ, phái sinh hàng hóa, đại lý ngân hàng, biên nhận lưu kho…) nhằm tăng khả năng tiếp cận tín dụng với quy mô lớn và dài hạn hơn cho nông dân, trang trại, hợp tác xã và doanh nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn; (ii) Xây dựng cơ chế chính sách kết hợp chặt chẽ giữa các chương trình cho vay và bảo hiểm nông nghiệp theo chuỗi giá trị nông nghiệp.
  • Xây dựng thể chế phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như cụm liên kết ngành, tổ hợp nông nghiệp công nghệ cao, công viên nông nghiệp công nghệ cao, vườn ươm sáng tạo, coi đó là các mô hình được kỳ vọng thể hiện cách làm mới hiệu quả hơn trong thu hút đầu tư, giúp tăng năng lực cạnh tranh, nâng cao trình độ công nghệ trong nước, phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, tạo việc làm và giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội khác.
  • Tăng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu khoa học nông nghiệp trong nước, tập trung vào những trung tâm khoa học công nghệ nông nghiệp tại các vùng trọng điểm nông nghiệp, đặc biệt với các ngành công nghệ mũi nhọn như công nghệ sinh học, cơ khí, thông tin, vật liệu mới, bảo quản, chế biến nông nông nghiệp. Tăng cường đầu tư cho khoa học công nghệ nông nghiệp theo hình thức Quỹ, phối hợp với các hiệp hội và các nhà đầu tư lớn để phát triển vườn ươm doanh nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Phân cấp mạnh mẽ hoạt động khuyến nông cho các tổ chức của nông dân và doanh nghiệp. Phối hợp chặt chẽ giữa công tác đào tạo – nghiên cứu – khuyến nông.Rà soát khung pháp lý, tăng chế tài để bảo vệ bản quyền phát minh, sáng chế của nghiên cứu khoa học công nghệ nông nghiệp. 

3.2. Cải thiện sinh kế cho cư dân nông thôn

  • Phát huy nội lực cộng đồng, do cộng đồng làm chủ trong Chương trình xây dựng nông thôn mới, tập trung vào việc nâng cao năng lực cho lãnh đạo cộng đồng, cán bộ phát triển nông thôn, phân cấp quản lý đến cấp thôn và tăng cường sự tham gia của cư dân và các tổ chức cộng đồng nông thôn từ công tác xây dựng quy hoạch, lên kế hoạch, triển khai và giám sát các hạng mục trong Chương trình nông thôn mới.
  • Hỗ trợ người nghèo dựa trên triển vọng phát triển của vùng, liên kết nông thôn-đô thị, trong đó tập trung vào những nhóm đối tượng mục tiêu trọng tâm là người nghèo và cận nghèo ở nông thôn, đặc biệt là nhóm dân tộc thiểu số và phụ nữ. Đảm bảo khả năng tiếp cận của phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số với dịch vụ khuyến nông. Tăng cường hỗ trợ, tạo điều kiện để người nghèo nông thôn được tham gia vào chuỗi giá trị nhất định thông qua tăng cường năng lực cho các nhóm nghèo, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào các vùng khó khăn, kém phát triển. Nhà nước phối hợp với các tổ chức đoàn thể hỗ trợ hình thành các nhóm đồng lợi ích để thúc đẩy quá trình chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, trong đó khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm và chuyển giao công nghệ giữa những nông dân khá giả hơn và nhóm nông dân nghèo hơn.
  • Tạo điều kiện để các hộ nông dân sản xuất quy mô lớn, trang trại nâng cao giá trị gia tăng, nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững, cải thiện chất lượng nông sản phẩm: hỗ trợ về hạ tầng sản xuất, tiếp cận KHCN, hỗ trợ tăng cường liên kết chuỗi giá trị và xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm; hỗ trợ xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm; hỗ trợ một phần chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng xây dựng khu trang trại tập trung (giao thông, điện, nước…); hỗ trợ kinh phí xây dựng hệ thống xử lý môi trường, nhất là các trang trại chăn nuôi, thủy sản.
  • Đào tạo nâng cao năng lực cho chủ trang trại và lao động làm việc trong các trang trại: đào tạo bồi dưỡng kiến thức quản lý cho chủ trang trại và đào tạo nghề nâng cao kỹ thuật sản xuất cho lao động trong trang trại; đào tạo kỹ thuật cho lao động trang trại áp dụng QTKT sản xuất tiến tiến (GAP, tiêu chuẩn chứng nhận). Có chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng cho trang trại: đối với diện tích đất chủ trang trại mượn, thuê, thuê lại hợp pháp quyền sử dụng đất của người sử dụng đất nếu được người sử dụng đất đồng ý bảo lãnh trong hợp đồng mượn, thuê, thuê lại đất được phép sử dụng các hồ sơ đất đai của người sử dụng đất để làm tài sản bảo đảm khi vay vốn tín dụng ở các tổ chức tín dụng và không được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu không được sự đồng ý của người sử dụng đất.
  • Tạo điều kiện vốn hóa đất đai, tài sản và phát triển bảo hiểm xã hội cho những nông dân rời bỏ nông nghiệp tham gia vào lĩnh vực phi nông nghiệp tại nông thôn và đô thị. Đổi mới các chương trình đào tạo nghề nông thôn, huy động sự tham gia của doanh nghiệp thuê lao động, theo nhu cầu của doanh nghiệp sử dụng lao động. Xóa bỏ những rào cản gắn với việc hỗ trợ tiếp cận dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục, nhà ở….) cho người di cư tới đô thị. Bảo vệ người lao động di cư ra đô thị thông qua các tổ chức công đoàn và các hình thức tổ chức của người lao động, dỡ bỏ vướng mắc về thủ tục và tạo điều kiện người lao động di cư chính thức hóa được hoạt động và cả ngành nghề hoạt động của mình.

3.3. Tăng cường hiệu quả đầu tư cho kết cấu hạ tầng nông thôn

- Đẩy mạnh xây dựng NTM gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp, đặc biệt kết cấu hạ tầng nông thôn phải gắn với phát triển các chuỗi giá trị nông nghiệp. Tăng cường kết cấu hạ tầng kết nối liên xã, liên huyện, kết nối nông thôn – đô thị, tăng cường liên kết vùng. Tăng cường đầu tư cho cảnh quan, môi trường nông thôn, phát triển du lịch nông thôn.

- Đảm bảo nguồn vốn ngân sách nhà nước ổn định và đầy đủ cho phát triển nông thôn. Ưu tiên huy động vốn đầu tư công và đầu tư tư nhân cho các công trình hạ tầng phục vụ ứng dụng công nghệ nhằm phát triển đồng bộ cho các khu vực quy hoạch dài hạn dành cho nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Huy động nguồn lực tư nhân theo hình thức đối tác công-tư trong đầu tư xây dựng thí điểm các khu ứng dụng công nghệ cao theo hình thức chọn một doanh nghiệp trụ cột đầu tư, làm quy hoạch, quản lý chung và đầu tư một số cơ sở hạ tầng công nghệ cơ bản, sau đó một số nhà đầu tư thứ cấp tham gia.

- Giảm các đầu mối, tập trung quản lý, nâng cao hiệu quả thực hiện, lồng ghép các chương trình, dự án về một cơ chế chung, trong giai đoạn 2021-2030, tích hợp 2 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM và giảm nghèo bền vững cùng 21 chương trình mục tiêu vào một chương trình tổng thể là Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM và Giảm nghèo bền vững.