Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phục vụ nông nghiệp, kinh tế nông thôn trong giai đoạn hiện nay

Ban Kinh tế Trung ương trân trọng giới thiệu một số bài tham luận tại Hội thảo chuyên đề 1: "Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững vì một Việt Nam thịnh vượng" trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc và Triển lãm quốc gia về thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Bài 2: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phục vụ nông nghiệp, kinh tế nông thôn trong giai đoạn hiện nay

                                                                                                                       Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế đất nước, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam (tên gọi đầu tiên của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Agribank) được thành lập vào ngày 26/3/1988, trải qua 30 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, cùng với ý chí, bản lĩnh vượt lên mọi khó khăn, thử thách, với những đột phá sáng tạo, cách làm mới, Agribank với những sáng kiến đổi mới và các giải pháp tích cực đã khẳng định vai trò chủ đạo trong đầu tư lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, đóng góp tích cực đối với thành tựu đổi mới kinh tế nông thôn Việt Nam.

1. Kết quả phục vụ nông nghiệp, kinh tế nông thôn giai đoạn hiện nay

Xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển, với mục tiêu đồng hành xây dựng nông nghiệp nông thôn, Agribank đã triển khai nhiều giải pháp cụ thể, đem lại những thành công nhất định.

1.1. Chủ động đề xuất đổi mới về cơ cấu tổ chức phục vụ nông nghiệp, nông thôn, thành lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo, Ngân hàng Phục vụ người nghèo - tiền thân của Ngân hàng Chính sách Xã hội

Trong giai đoạn đầu hoạt động của ngân hàng thương mại (1988-1995), hộ nghèo khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng nếu không có chính sách cho vay ưu đãi. Do đó, từ đề xuất của Agribank, ngày 24/3/1995 NHNN đã chấp thuận cho phép thành lập "Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo thiếu vốn sản xuất" do Agribank quản lý và giải ngân, với số vốn đóng góp ban đầu là 400 tỷ đồng. Chỉ sau 5 tháng hoạt động, Agribank đã giải ngân gần hết số vốn của Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo.

Để mở rộng nguồn vốn cho vay hộ nghèo, Agribank tiếp tục xây dựng Đề án và đề xuất Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo. Ngày 31/8/1995, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 525-TTg thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo trực thuộc Agribank với tổng nguồn vốn ban đầu là 518 tỷ đồng. Ngay sau khi thành lập, đến cuối năm 1996 nguồn vốn của Ngân hàng phục vụ người nghèo đã tăng lên gần 2.000 tỷ đồng, tổng dư nợ tăng hơn 3 lần so với 1995 là 1.769 tỷ đồng, phạm vi hoạt động được mở rộng, đảm bảo an toàn, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội, tạo lập được nguồn vốn và kênh dẫn vốn hiệu quả đến người nghèo.

Theo tiến trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, tách bạch đối tượng chính sách cho vay, phục vụ tốt hơn đối tượng nghèo và cận nghèo, năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) trên cơ sở tách cơ cấu tổ chức, bộ máy nhân sự của Ngân hàng Phục vụ người nghèo ra khỏi Agribank. Từ khi thành lập với số vốn chỉ hơn 10 ngàn tỷ đồng, sau 15 năm, nguồn vốn của NHCSXH tăng gấp hơn 16 lần. Hằng năm, các tổ chức tín dụng đều duy trì số dư tiền gửi tại NHCSXH bằng 2% số dư nguồn vốn huy động của Tổ chức tín dụng. Riêng trong 3 năm gần đây, Agribank đã duy trì số tiền gửi tại NHCSXH bình quân 20.000 tỷ VND để NHCSXH cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách.

1.2. Chủ động đề xuất và triển khai các cơ chế, chính sách cho vay nông nghiệp, nông thôn, tích cực triển khai chương trình, chính sách của Chính phủ, NHNN

Từ thực tiễn đầu tư, phục vụ nông nghiệp, nông thôn, Agribank đã chủ động xây dựng đề án hoặc kiến nghị Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ ban hành, sửa đổi, bổ sung nhiều cơ chế, chính sách tín dụng trong cho vay nông nghiệp, nông thôn như: Chỉ thị số 202/CT ngày 28/6/1991, Nghị định số 14/CP ngày 02/3/1993, Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Trên cơ sở các nhiệm vụ được phân công theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngành Ngân hàng đã tích cực triển khai thực hiện và xác định nhiệm vụ chiến lược của Ngành là thúc đẩy đầu tư tín dụng, cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân. Năm 2009, Agribank đã xây dựng chương trình hành động của Agribank thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, và ban hành Quyết định số 1469/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 03/11/2009 của Hội đồng Quản trị Agribank về việc phê duyệt Đề án " Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam mở rộng và nâng cao hiệu quả đầu tư vốn cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020".

Song song với việc triển khai đề án, Agribank tiếp tục phối hợp với các Bộ Ban Ngành tham gia xây dựng chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn phù hợp với từng thời kỳ (Nghị định 41/2010/NĐ-CP, Nghị định 55/2015/NĐ-CP).

Đầu tư tín dụng của Agribank không ngừng mở rộng, dư nợ cho vay nền kinh tế đạt trên 960 ngàn tỷ đồng (tăng gấp 3 lần so với năm 2008), trung bình dư nợ tăng trưởng 13%/năm, đặc biệt giai đoạn 2015-2017, dư nợ tăng trưởng ở mức cao (trên 17%/năm).  Những năm gần đây, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn của Agribank luôn duy trì tỷ trọng 70% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế, chiếm gần 50% trong tổng mức cấp tín dụng nông nghiệp nông thôn của toàn hệ thống ngân hàng. Đến nay, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn đạt hơn 650 ngàn tỷ đồng với hơn 3,2 triệu khách hàng.

1.3. Tiên phong tham gia các chương trình chính sách nông nghiệp nông thôn của Chính phủ nhằm hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, từ đó góp phần thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thay đổi diện mạo khu vực nông thôn, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững.

Agribank tiên phong triển khai mạnh mẽ các chương trình trọng điểm của Chính phủ, NHNN, Hiện Agribank có hơn 3,2 triệu khách hàng đang vay vốn thuộc 5 lĩnh vực ưu tiên, 06 chính sách tín dụng, 01 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới như chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo NQ 30a/2008/NQ-CP đối với 64 huyện thuộc 20 tỉnh, thành trên cả nước; Cho vay giảm tổn thất thất nông nghiệp theo Quyết định 63,65,68/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ với hơn 3.800 tỷ đồng; Cho vay đóng mới nâng cấp tàu khai thác hải sản xa bờ và tàu dịch vụ hậu cần xa bờ theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP trên toàn bộ 27 tỉnh ven biển với dư nợ gần 6000 tỷ đồng; cho vay Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tại 8.973 xã trên cả nước, dư nợ đạt hơn 423 ngàn tỷ đồng với hơn 2,6 triệu khách hàng.

Tuy là ngân hàng thương mại phải cạnh tranh huy động vốn theo cơ chế thị trường, mỗi năm bằng tài chính của ngân hàng, Agribank vẫn dành hàng ngàn tỷ đồng để hỗ trợ cho vay lãi suất thấp, xử lý rủi ro đối với các đối tượng khách hàng, đặc biệt là các khách hàng thuộc các chương trình chính sách, cùng khách hàng tháo gỡ khó khăn, phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh. Agribank tiết giảm chi phí hoạt động, hàng năm dành kinh phí trên 300 tỷ đồng đối với các hoạt động an sinh xã hội, ưu tiên các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, giáo dục, y tế, đường giao thông nông thôn, hỗ trợ cộng đồng và hỗ trợ 12,4 tỷ đồng các tỉnh miền Trung khắc phục hậu quả bão lụt thiên tai, sớm ổn định sản xuất kinh doanh.

1.4. Đổi mới phương thức đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn thông qua Tổ vay vốn trên cơ sở hợp tác với các tổ chức đoàn thể xã hội như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, các Hội khác ở nông thôn

Agribank đã ký kết Thỏa thuận hợp tác với Hội Phụ nữ, Hội Nông dân và các Hội khác ở nông thôn nhằm hướng dẫn cho vay, giải ngân, thu nợ và chia sẻ kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi. Dư nợ cho vay qua tổ vay vốn và dư nợ bình quân một tổ liên tục tăng. Đến nay, dư nợ cho vay qua tổ đạt 110 ngàn tỷ đồng với hơn 57 ngàn tổ vay vốn và hơn 1,3 triệu tổ viên, tỷ lệ nợ xấu rất thấp (0,3% tổng dư nợ), số tổ viên đã tăng 166% và dư nợ tăng gần 7 lần so với năm 2010. Một số chi nhánh cho vay qua tổ hiệu quả như: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Nam Định, Phú Thọ…

Mô hình cho vay qua tổ vay vốn đã tạo điều kiện hơn cho khách hàng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ ngân hàng, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm về phương thức đầu tư sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh, đảm bảo khả năng trả nợ, góp phần quan trọng trong giảm áp lực quản lý khách hàng của Agribank, tạo được sự đồng tình ủng hộ của cấp ủy, chính quyền địa phương.

1.5. Đổi mới về phương thức tổ chức phục vụ hộ nông dân ngày càng thuận tiện, tiết giảm chi phí thông qua thành lập Ngân hàng lưu động

Tháng 9 năm 2017, Agribank đã được NHNN chấp thuận triển khai "Đề án Điểm giao dịch lưu động" hay còn gọi là Ngân hàng lưu động với mục tiêu mang các dịch vụ, tiện ích ngân hàng đến người dân thuộc địa bàn nông nghiệp, nông thôn. Ngân hàng lưu động có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng cơ bản như: huy động vốn, giải ngân, thu nợ, chuyển tiền, mở tài khoản, phát hành thẻ,…

Thí điểm triển khai hoạt động từ tháng 01/2018 trên địa bàn 30 huyện thuộc 30 tỉnh, qua 10 tháng triển khai, Agribank đã tổ chức được 2.405 phiên giao dịch tại 236 xã, phục vụ 225.288 khách hàng, bình quân 1 phiên giao dịch phục vụ 110 khách hàng, trong đó giải ngân cho 8.847 khách hàng với số tiền 1.011 tỷ đồng. Việc triển khai điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng đã đáp ứng nhu cầu thuận tiện cho hộ sản xuất, cá nhân trong việc giải ngân, thu nợ, thu lãi cũng như gửi tiền tiết kiệm, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ của Agribank như thanh toán, chuyển tiền…, giảm chi phí và thời gian đi lại cho khách hàng, được chính quyền địa phương, khách hàng ủng hộ và đánh giá cao. Trong thời gian tới, khi kết thúc giai đoạn thí điểm, Agribank sẽ tiếp tục triển khai thêm 220 xe giao dịch lưu động trên toàn bộ các chi nhánh có địa bàn phù hợp.

1.6. Chủ động dành nguồn vốn tín dụng ưu đãi thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, góp phần bảo vệ an toàn người tiêu dùng và uy tín, thương hiệu mặt hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Nhận rõ những thách thức mà nền nông nghiệp Việt Nam đang phải đối diện, với mong muốn góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam trên thị trường nông sản toàn cầu, xây dựng và quản lý chuỗi giá trị trong sản xuất, vì nền nông nghiệp an toàn, phát triển bền vững, Agribank đã chủ động triển khai chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 50 nghìn tỷ đồng phục vụ sản xuất "Nông nghiệp sạch" vì sức khỏe cộng đồng. Nhờ đó, nhiều đối tượng, các mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch đã được vay vốn từ Agribank.

Các mô hình do Agribank đầu tư đã mang lại hiệu quả thiết thực như: trồng rau, hoa, quả (Lâm Đồng), cánh đồng mẫu lớn (Cần Thơ), chăn nuôi (Bắc Ninh, Lào Cai, Hà Nam), trồng hoa lan, nuôi bò sữa (Củ Chi, Kon Tum), hoa quả và rau an toàn ở khu vực các tỉnh Tây Nguyên, thanh long theo tiêu chuẩn VietGap (Bình Thuận)… Đến nay, dư nợ Agribank đầu tư nông nghiệp sạch, công nghệ cao đã hơn 5.100 tỷ đồng với hơn 2.300 khách hàng. Các mô hình sản xuất này bước đầu đã tạo sự đồng thuận cao giữa các doanh nghiệp và người dân, qua đó dần hình thành "làn sóng" đầu tư phát triển nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao, có đóng góp tích cực đối với quá trình triển khai tái cơ cấu nền nông nghiệp.

1.7. Tiếp tục hợp tác chặt chẽ với các tổ chức tài chính trong và ngoài nước để tiếp cận, giải ngân và phục vụ các dự án nước ngoài, chia sẻ kinh nghiệm với các hiệp hội trong và ngoài nước.

Agribank luôn quan tâm sự hợp tác song phương, đa phương với các tổ chức kinh tế, các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, các tổ chức phi Chính phủ để huy động nguồn vốn nội ngoại tệ, vốn ODA. Tranh thủ kinh nghiệm và trao đổi thường xuyên với Hiệp hội APRACA,CICA, WSBI…, tìm kiếm cơ hội hợp tác, hội nhập quốc tế. Đến nay, Agribank đã thực hiện lũy kế 40 Dự án sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi, trong đó có 09 Dự án dành cho hộ nghèo và 153 Dự án ngân hàng phục vụ với tổng trị giá gần 7,65 tỷ USD, trong đó có 13 dự án phục vụ người nghèo, khó khăn. Ngân hàng Thế giới đã đánh giá Agribank là "một trong số các định chế tài chính thành công và hiệu quả nhất trên thế giới xét về khía cạnh chi phí hoạt động thấp và khả năng tiếp cận các hộ gia đình nông thôn và các doanh nghiệp nhỏ."

1.8. Chủ động đối mặt và có giải pháp kịp thời trước rủi ro trong đầu tư tín dụng nông nghiệp, triển khai gói sản phẩm bảo hiểm.

Đối với các khu vực bị ảnh hưởng do biến đổi khí hậu, thiên tai, Agribank đã chủ động phối hợp với chính quyền các cấp và khách hàng rà soát, đánh giá mức độ bị thiệt hại liên quan đến vốn tín dụng, áp dụng các biện pháp hỗ trợ khách hàng khắc phục khó khăn như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng, miễn giảm lãi suất, tiếp tục cho vay mới giúp khách hàng có điều kiện để khôi phục lại sản xuất, ổn định kinh doanh. Đặc biệt, để giảm nhẹ gánh nặng cho khách hàng vay khi gặp rủi ro và ngân hàng bảo đảm được nguồn thu nợ, Agribank đã hợp tác với Công ty cổ phần bảo hiểm ABIC triển khai rất thành công chương trình bảo hiểm tín dụng cho khách hàng khi vay vốn.

2. Giải pháp của Agribank trong giai đoạn hiện nay

Ngày 15/11/2013, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký Quyết định số 53/QĐ-NHNN.m phê duyệt Đề án cơ cấu lại tổ chức bộ máy và hoạt động kinh doanh của Agribank giai đoạn 2013- 2015. Xác định Đề án tái cơ cấu là nhiệm vụ then chốt, có tính quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, Agribank đã chủ động, tích cực tập trung các nguồn lực, triển khai đồng bộ và quyết liệt nhiều giải pháp với lộ trình và mục tiêu cụ thể về hoàn thiện cơ chế chính sách, điều chỉnh cơ cấu tài sản phù hợp, quản lý tốt nguồn vốn, nâng cao chất lượng tín dụng và khả năng quản lý khoản vay.

Chủ động, quyết liệt tập trung mọi nguồn lực để triển khai, tình hình hoạt động kinh doanh của Agribank từng bước được ổn định và tăng trưởng đáng kể so với thời điểm trước cơ cấu: Nguồn vốn huy động đạt gần 1,1 triệu tỷ đồng, tổng tài sản chính thức Agribank đã vượt con số 1 triệu tỷ đồng, đạt gần 1,2 triệu tỷ đồng.

Đến nay, Agribank đã thực hiện thành công đề án tái cơ cấu giai đoạn 2011-2015  và đang triển khai phương án cơ cấu lại Agribank gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020. Theo đó, Agribank tiếp tục giữ vững vị trí Ngân hàng Thương mại hàng đầu Việt Nam, hoạt động theo mô hình NHTM do Nhà nước nắm cổ phần chi phối; Có nền tảng công nghệ, mô hình quản trị hiện đại, tiên tiến và năng lực tài chính cao; đủ khả năng cạnh tranh, kinh doanh an toàn, hiệu quả, phát triển ổn định và bền vững; giữ vững vai trò chủ lực trong đầu tư, hỗ trợ phát triển và cung cấp các dịch vụ tài chính, tín dụng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, Agribank đề ra trọng tâm 04 khâu đột phá chiến lược:

 Thứ nhất: Khắc phục triệt để các tồn tại chính, hoàn thiện các mục tiêu tái cơ cấu để chuẩn bị điều kiện chuyển đổi mô hình hoạt động sang Ngân hàng Thương mại Cổ phần.

Thứ hai: Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ dựa trên nền tảng nền tảng công nghệ hiện đại, tiên tiến; phát triển, mở rộng các kênh phân phối sản phẩm dịch vụ tới khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường; tích cực tìm kiếm các giải pháp khả thi để nâng cao năng lực tài chính, đảm bảo điều kiện về an toàn hoạt động theo quy định của Nhà nước và Thông lệ quốc tế.

  Thứ ba: Hoàn thiện, chuẩn hóa mô hình quản trị điều hành, quản trị rủi ro, các quy trình nghiệp vụ hướng tới các chuẩn mực quốc tế, phù hợp với thực tiễn hoạt động của Agribank.

 Thứ tư: Nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh ngân hàng có trình độ cao, ý thức tuân thủ pháp luật, có đạo đức và tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp tốt, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập.

3. Một số tồn tại, hạn chế

Thứ nhất, đầu tư vào khu vực nông nghiệp nông thôn còn hạn chế, dàn trải chưa đáp ứng được nhu cầu3; vốn đầu tư tư nhân ít, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng dưới 2%), chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thứ hai, quy mô sản xuất kinh doanh còn nhỏ lẻ, manh mún, năng lực sản xuất hạn chế, đầu tư thiếu đồng bộ, máy móc thiết bị sản xuất, chế biến chậm đổi mới; cơ sở hạ tầng nông thôn thiếu đồng bộ; công tác quy hoạch theo phong trào; sự tuân thủ quy hoạch thấp; chưa xây dựng được các chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ dẫn đến thường xuyên xảy ra tình trạng được mùa rớt giá.

Thứ ba, cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp chi phí cao, chênh lệch lãi suất thấp, rủi ro lớn do thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, thị trường thiếu minh bạch... Nguồn vốn cho vay của Agribank là nguồn vốn thương mại, huy động từ thị trường nên lãi suất đầu vào cao.

Thứ tư, nhu cầu tăng trưởng tín dụng nông nghiệp, nông thôn rất lớn, trong khi Agribank chưa cổ phần hóa và chưa được tăng vốn điều lệ nên Agribank gặp khó khăn về bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn tối thiếu và tăng trưởng tín dụng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

Thứ năm, thị trường bảo hiểm nông nghiệp chưa phát triển, số lượng doanh nghiệp tham gia còn hạn chế.

Thứ sáu, tiến độ giải ngân một số Dự án ODA còn chậm, đối tượng vay khó tiếp cận nguồn vốn dự án do đối tượng khách hàng là tổ hợp tác hoặc hợp tác xã năng lực yếu, không đủ điều kiện vay vốn, không có vốn góp của xã viên…

4. Kiến nghị, đề xuất của Agribank

Agribank đề xuất một số kiến nghị, đề xuất như sau đối với Chính phủ, Ngân hàng nhà nước và các bộ, ngành:

(i) Tăng cường đầu tư cho khu vực nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là đầu tư từ ngân sách nhà nước về cơ sở hạ tầng, ứng dụng khoa học công nghệ, các yếu tố đầu vào, trợ giá,...

(ii) Xem xét mở rộng đối tượng đầu tư một số dự án tài trợ ODA để đẩy nhanh tiến độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng số lượng khách hàng được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi.

(iii) Xây dựng quy hoạch phù hợp đặc điểm kinh tế vùng, định hướng ngành, các vùng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là những vùng tập trung quy mô lớn, mô hình chuỗi giá trị liên kết trên cơ sở thế mạnh và đáp ứng nhu cầu thị trường.

(iv) Xây dựng chính sách khuyến khích áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, hướng đến nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ. Tuyên truyền tích cực định hướng sản xuất nông nghiệp, kiến thức về nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ đến những người nông dân đặc biệt ở những địa bàn vùng sâu vùng xa.

(v) Kiên quyết và có lộ trình từng bước nâng cao tính minh bạch của thị trường nông nghiệp, xử lý nghiêm những trường hợp cạnh tranh không lành mạnh.

(vi) Đối với sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp, mở rộng đối tượng, đơn giản hóa thủ tục, tạo thị trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia, có chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm cho người tham gia sản xuất nông nghiệp.

Thời gian qua Agribank đã nhận được sự chỉ đạo, quan tâm sát sao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ; Ngân hàng nhà nước, các Bộ, Ban, Ngành Trung ương; sự quan tâm, hỗ trợ, chia sẻ của của cấp Ủy, chính quyền địa phương. Agribank chân thành cảm ơn sâu sắc và mong rằng tiếp tục nhận được sự quan tâm, hỗ trợ hơn nữa về cơ chế, chính sách, tạo điều kiện cho Agribank nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, giữ vững vai trò chủ lực trên thị trường nông nghiệp, nông thôn./.