Bài 9: Mười năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X vè nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Ban Kinh tế Trung ương trân trọng giới thiệu một số bài tham luận tại Hội thảo chuyên đề 1: "Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững vì một Việt Nam thịnh vượng" trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc và Triển lãm quốc gia về thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Bài 9: Mười năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và những đề xuất, kiến nghị

                                                         Nguyễn Văn Tiến

                                                      Vụ Trưởng Vụ Nông nghiệp – Nông thôn

                                                              Ban Kinh tế Trung ương

 

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò, vị trí chiến lược hết sức trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc của Đảng và dân tộc ta. Đảng ta thường xuyên quan tâm và có nhiều chủ trương, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Nghị quyết số 26 NQ/TW Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Nghị quyết) đã đề ra hệ thống chủ trương, chính sách toàn diện, đồng bộ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Sau 10 năm tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết của các cấp, các ngành và toàn xã hội, nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, nông thôn được đầu tư nâng cấp xanh, sạch, đẹp hơn, đời sống người dân nông thôn được cải thiện rõ rệt, góp phần quan trọng giữ vững sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh. 

1. Những kết quả chủ yếu sau 10 năm thực hiện Nghị quyết

(1)  Nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, phát huy lợi thế của điều kiện tự nhiên, tiềm năng, lợi thế của các vùng, miền, địa phương gắn với nhu cầu của thị trường; năng suất và chất lượng, tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp ngày càng cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là trong các giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2008 -2013. Giai đoạn 2008 – 2017, tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp đạt 2,66%/năm[1], tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành đạt 3,9%/năm; quy mô GDP ngành năm 2017 gấp 1,25 lần, GTSX ngành gấp 1,37 lần năm 2008 (tính theo giá cố định năm 2010).

Trong nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh, tăng tỷ trọng của các ngành, sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Tỷ trọng giá trị sản xuất thủy sản tăng từ 22,01% năm 2008 lên 26,25% năm 2017; tỷ trọng giá trị sản xuất lâm nghiệp từ 2,87% năm 2008 lên 4,08% năm 2017, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp từ mức 75,12% năm 2008 xuống còn 69,67% năm 2017. Chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện, tỷ trọng giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản xuất ngành đã tăng từ 57% năm 2010 lên 64,77% năm 2013, 67,1% năm 2014 và khoảng 68% năm 2015. Kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, tổng kim ngạch xuất khẩu 10 năm (2008 - 2017) đạt 261,28 tỷ USD, tăng bình quân 9,24%/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2017 đạt 36,52 tỷ USD so với mức 16,47 tỷ USD năm 2008; có 10 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1,0 tỷ USD (gạo, cà phê, cao su, cá tra, tôm, hạt điều, hạt tiêu, rau quả, sắn và gỗ và đồ gỗ).

Quy mô sản xuất nông hộ gia tăng, liên kết theo chuỗi giá trị, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn. Theo số liệu Tổng điều tra nông nghiệp nông thôn, đến 1/7/2016, lĩnh vực trồng trọt có gần 49,2 ngàn hộ sử dụng đất từ 5ha trở lên, tăng 13,6% so với năm 2011; 39,5 ngàn hộ trồng cây lâu năm sử dụng đất từ 5ha trở lên tăng 15%; lĩnh vực thủy sản có 12,7 ngàn hộ sử dụng đất từ 5ha trở lên, tăng 21,1%; trong chăn nuôi có 255 ngàn hộ nuôi từ 100 con gà trở lên, tăng 41,5% so với năm 2011,...Có 25,3 ngàn hộ tham gia liên kết sản xuất với các đơn vị sản xuất được cấp chứng nhận VietGAP và 619,3 ngàn hộ tham gia liên kết sản xuất theo cánh đồng lớn.

(2)  Xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều thành quả quan trọng, bộ mặt nông thôn đổi mới, văn minh hơn, hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn được tăng cường, nhất là cơ sở hạ tầng thiết yếu: hệ thống giao thông, điện, trường học, cơ sở y tế, thông tin truyền thông…Đến hết năm 2017, mạng lưới điện quốc gia đã bao phủ đến 100% số xã và 97,8% số thôn; 99,7% số xã đã có trường tiểu học và trường mẫu giáo; 99,5% số xã có trạm y tế xã; 60,8% số xã có chợ; 58,6% số xã có nhà văn hoá. Cả nước có 3.069 xã (tỷ lệ 34,4%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân đạt 13,7 tiêu chí/xã, có 43 đơn vị cấp huyện thuộc 24 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn nông thôn mới (năm 2010 chưa có xã đạt chuẩn; đến hết năm 2013 có 75 xã được công nhận đạt chuẩn, bình quân đạt 7,87 tiêu chí/xã, chưa có huyện đạt chuẩn nông thôn mới).     

Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Năm 2017, cơ cấu công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn chiếm trên 65%, cao hơn so mức 61% năm 2013, và 59% năm 2008. Ở nhiều địa phương, vùng nông thôn đã hình thành, thu hút một số lượng lớn lao động từ nông thôn, di chuyển đến các khu công nghiệp, đô thị, hoặc xuất khẩu lao động… Số hộ nông thôn tham gia các hoạt động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ năm 2016 chiếm 40,03% tăng 6,59% so với năm 2011, và 14,93% so với năm 2006; số hộ nông thôn hoạt động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản (NLTS) chiếm 53,66%, giảm 8,49% so với năm 2011, và 19,67% so với năm 2006. Trong 5 năm 2011 - 2016, tỷ lệ hộ gia đình ở nông thôn có thu nhập lớn nhất từ nông lâm thủy sản giảm từ 57% xuống 47,9%, số hộ có thu nhập lớn nhất từ hoạt động phi nông nghiệp tăng từ 36,7% lên 44,2%; thu nhập từ hoạt động sản xuất nông lâm thủy sản trong cơ cấu thu nhập bình quân đầu người/tháng khu vực nông thôn giảm từ 39,5% xuống còn 27%.

(3) Khoa học và công nghệ trong nông nghiệp, nông thôn đã góp phần quan trọng tăng sản lượng và đóng góp trên 30% giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp; làm thay đổi tập quán canh tác và nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế nông nghiệp. Trình độ khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản từng bước được nâng cao theo hướng sử dụng giống mới, ứng dụng công nghệ sinh học, phương thức canh tác, quản trị tiên tiến để nâng cao năng suất chất lượng nông lâm thủy sản.

Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học và công nghệ hiệu quả hơn. Ưu tiên các nhiệm vụ nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ cao, sản xuất nông nghiệp sạch; tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc trong sản xuất như: sản xuất giống chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu, xây dựng các quy trình sản xuất tốt, quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia… Đã có nhiều tiến bộ kỹ thuật được đưa vào sản xuất góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông lâm thủy sản.

Năng suất các loại cây trồng vật nuôi tăng nhanh, nhiều loại đứng trong tốp đầu khu vực và thế giới. Năng suất lúa gạo cao nhất trong khu vực Đông Nam Á đạt 5,6 tấn/ha, gần gấp đôi so với Thái Lan và gấp 1,5 lần so với Ấn Độ. Năng suất cà phê đạt 2,6 tấn nhân xô/ha, cao gấp 1,5 lần so với Brazil, gấp 3 lần so với Colombia, Indonesia. Năng suất hồ tiêu đạt 2,6 tấn/ha, gấp 3 lần so với Indonesia và 1,3 lần của Ấn Độ. Năng suất cá tra bình quân đạt 209 tấn/ha, có ao nuôi đạt 300 - 400 tấn/ha, cao nhất thế giới. Năng suất tôm sú đạt 0,45 tấn/ha, tôm thẻ chân trắng đạt 3.91 tấn/ha, cao hơn so với Ấn Độ (tôm thẻ chân trắng năng suất 3,5 tấn/ha) và Thái Lan (tôm thẻ chân trắng năng suất 3,6 tấn/ha).

(4)  Đời sống vật chất, tinh thần người dân nông thôn được cải thiện rõ rệt, thu nhập của người dân nông thôn tăng từ 9,15 triệu đồng năm 2008, lên 19,97 triệu đồng năm 2013 (gấp 2,18 lần so với năm 2008) và khoảng 32 triệu đồng năm 2017 (gấp 3,49 lần so với năm 2008). Dân chủ nông thôn, nếp sống văn hóa, trật tự an toàn xã hội được nâng lên. Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng tích cực, tạo ra nhiều việc làm mới. Năm 1995 lao động nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm hơn 71% tổng lao động cả nền kinh tế thì tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 44,3% năm 2015, năm 2017 còn khoảng 40,3%. Số hộ làm nông lâm thủy sản giảm dần, năm 2017 chiếm 53,7% tổng số hộ gia đình ở nông thôn (năm 2011 là 62,2%). Thu nhập bình quân đầu người/năm ở nông thôn đã tăng từ 9,15 triệu đồng năm 2008 lên 19,97 triệu đồng năm 2013, và khoảng 32 triệu đồng năm 2017 gấp 3,49 lần so với năm 2008.

(5) Năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, uy tín của tổ chức, cán bộ cơ sở được nâng cao. Nhiều tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn đã đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò hạt nhân trong lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Uy tín của các cấp ủy, chính quyền được nâng cao, nhất là ở các xã đã thực hiện tốt xây dựng nông thôn mới. Các tổ chức đảng là nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo, phân công, phối hợp các tổ chức chính quyền, đoàn thể trên địa bàn thực hiện các nhiệm vụ của Nghị quyết. Nhiều nơi người đứng đầu cấp ủy trực tiếp tham gia là Trưởng ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới; phát huy phương châm "đảng viên đi trước, làng nước theo sau" .

Bộ máy quản lý nhà nước cấp xã được củng cố, đổi mới. Chính quyền các cấp đã tập trung hơn chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã tích cực tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tổ chức thực hiện các cuộc vận động và phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh;  "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", phong trào "Đoàn kết sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, hội nhập quốc tế"; các thành viên MTTQVN phát động các phong trào thi đua theo chuyên đề, tham gia tổ chức thực hiện một số tiêu chí xây dựng nông thôn mới cụ thể có tác động rất thiết thực[2]. Vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam được nâng cao.

Công tác phối hợp kiểm tra, theo dõi, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả, kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và các nội dung của Nghị quyết được tăng cường.

Trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt được nâng lên đáng kể, trong các năm 2001-2016, tỷ lệ các bộ có bằng đại học trở lên tăng từ 33,2% lên 62,9%; tỷ lệ cán bộ qua các lớp bồ dưỡng lý luận chính trị tăng từ 97% lên 99%.

2. Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc

- Nông nghiệp phát triển chưa bền vững, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh, hiệu quả sản xuất hàng hóa nông sản còn thấp. Giai đoạn 2005-2010 tăng trưởng bình quân đạt 4,85%, giai đoạn 2011-2015 bình quan đạt 3,13%, năm 2015 GDP ngành chỉ đạt 2,41%, thấp nhất trong 5 năm qua, năm 2016 tăng trưởng 1,36%, năm 2017 tăng trưởng đạt 2,9%. Năng suất lao động trong ngành nông lâm thủy sản còn thấp. Cả nước[3] có 21,6 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực nông lâm thủy sản, năng suất lao động nông lâm thủy sản bình quân đạt 35,5 triệu đồng/lao động/năm, bằng 38,1% năng suất lao động chung của nền kinh tế, bằng 29,4% năng suất lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng, bằng 31,3% năng suất lao động trong ngành dịch vụ.

Sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, thiếu liên kết, hợp tác sản xuất, kinh doanh giữa hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp là một trở ngại lớn cho việc đưa cơ giới hóa, hiện đại hóa, khoa học - công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và hiệu quả sản xuất. Quy mô sản xuất nhỏ, lẻ (80% số hộ sản xuất nông nghiệp có quy mô nhỏ hơn 1ha/hộ). Tình trạng sử dụng các chất kích thích để đẩy nhanh tốc độ sinh trưởng của cây trồng, dẫn đến dư lượng hóa chất tồn đọng trong thực phẩm, gây độc hại ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người tiêu dùng chưa được kiểm soát chặt chẽ.

- Kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Đến tháng 7/2018, cả nước vẫn còn 1.922 xã đạt dưới 10 tiêu chí Xây dựng nông thôn mới, trong đó có 363 xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng biên giới, bãi ngang ven biển và hải đảo. Kết cấu hạ tầng sản xuất nông nghiệp còn yếu, nhất là hạ tầng sản xuất thuỷ sản, lâm nghiệp, dịch vụ vận chuyển kho bãi và mạng lưới phân phối.

 Công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn phát triển chậm chưa đủ khả năng tạo việc làm, dẫn đến lao động nông nghiệp dư thừa, thiếu việc làm đang tạo sức ép lớn đối với các địa phương và khu vực nông thôn.  Các cơ sở công nghiệp chủ yếu tập trung ở đô thị, ven đô thị, chưa có sự chuyển dịch tích cực về các vùng nông thôn, nhất là các ngành thâm dụng lao động. Nhiều nơi, tình trạng đô thị hóa tự phát đang tiềm ẩn những bất cập lớn cho phát triển bền vững nông thôn. Đa số các làng nghề có trình độ công nghệ thấp, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm làm ra chưa cao. Phần lớn các cơ sở dịch vụ nhỏ lẻ, quy mô gia đình, phát triển tự phát. Công nghiệp phục vụ sản xuất nông lâm thủy sản kém phát triển, nhất là ở khâu bảo quản và chế biến sâu, vật tư, thiết bị, gần 20% phân bón, 70% máy móc, thiết bị phục vụ nông nghiệp, đa số thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật phải nhập khẩu.

-  Lao động làm việc trong lĩnh vực nông lâm thủy sản chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2017, cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong trong ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 40,3% lao động cả nước, trong khi GDP ngành nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 15,34%. Lao động nông nghiệp dư thừa, thiếu việc làm, thu nhập thấp và lãng phí nguồn lực lao động trong giai đoạn dân số vàng của nước ta đang là áp lực rất lớn đối với các địa phương trong quá trình thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, nâng cao thu nhập của người dân nông thôn.

 Đời sống người dân nông thôn có cải thiện nhưng còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập thấp, bấp bênh, thiếu ổn định. Năm 2016, thu nhập bình quân của một người ở nông thôn là 2,437 triệu đồng/tháng, thấp hơn nhiều so với ở đô thị (4,368 triệu đồng/tháng) và bình quân chung của cả nước (3,098 triệu đồng/tháng).  Thu nhập của nông dân năm 2017 chỉ bằng 78% bình quân chung cả nước; thu nhập bình quân của hộ gia định nông thôn đạt khoảng 130 triệu đồng/hộ; chênh lệch thu nhập giữa các hộ nông thôn có xu hướng gia tăng; chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư gia tăng, tăng từ 9,7 lần năm 2014 lên 9,8 lần năm 2016; tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn cao gấp 4 lần ở các thành thị, có nơi trên 50%, tập trung ở các vùng miền núi phía Bắc, duyên hải miền Trung, Tây nguyên. Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ tái nghèo bình quân chiếm 5,1% số hộ thoát nghèo.

- An ninh trật tự nông thôn diễn biến phức tạp, ô nhiễm môi trường, nhất là trong các làng nghề gia tăng. Ô nhiễm môi trường, chủ yếu là ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm chất thải rắn, rác thải sinh hoạt, ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, ô nhiễm ở các làng nghề có dấu hiệu gia tăng; tệ nạn xã hội và mất trật tự, an toàn xã hội nông thôn diễn ra ở nhiều nơi đã gây ra hậu quả nặng nề ở nông thôn hiện nay và đặt nông nghiệp Việt Nam trước nguy cơ phát triển thiếu bền vững.

- Nhận thức, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ công chức, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể chính trị-xã hội về nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn hạn chế, nhất là trong xây dựng chính sách, bố trí vốn ngân sách, huy động nguồn lực, phát huy vai trò chủ thể của người nông dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu. Đầu tư từ ngân sách Nhà nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu, chưa thực hiện chủ trương 5 năm sau tăng gấp 2 lần đầu tư ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn so với 5 năm trước. Mức huy động từ các thành phần kinh tế khác còn thấp, đầu tư xã hội cho nông lâm thủy sản chỉ chiếm 6% tổng đầu tư của xã hội và có xu hướng giảm.

3. Đề xuất một số chủ trương, giải pháp

Trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng; hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng; cạnh tranh, biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng gay gắt, để phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống người dân nông thôn, xin đề xuất một số định hướng, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, Về quan điểm, cần tiếp tục khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề có tính chiến lược, nền tảng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao thu nhập đời sống của người dân nông thôn phải được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị và nông dân là chủ thể của quá trình phát triển. Để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn, cần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ và chuyển đổi lao động nông lâm thủy sản sang công nghiệp, dịch vụ.

Hai  là, Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới thiết thực, hiệu quả vì lợi ích của người dân nông thôn.

Đầu tư xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, bền vững, gắn với phát triển đô thị, đô thị hóa nông thôn. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kết cấu hạ tầng cơ bản như giao thông, điện, trường học, cơ sở y tế, thông tin truyền thông, các thiết chế văn hóa...; hạ tầng phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ bảo đảm tính kết nối theo hệ thống, kết nối cấp thôn, xã, huyện, liên xã, liên huyện. Phát triển hệ thống giao thông nông thôn bảo đảm giao thông thông suốt 4 mùa tới tất cả các thôn, xã. Hệ thống điện cấp điện sinh hoạt, sản xuất cho hầu hết dân cư, các cơ sở công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Tiếp tục phát triển các thiết chế văn hóa - xã hội nông thôn. Xây dựng nông thôn mới ở các khu vực ven đô thị, kinh tế phát triển phải tính đến các yêu cầu đô thị hóa trong tương lai. Bảo đảm tính kết nối giữa nông thôn và đô thị, giữa các xã với nhau đảm bảo tính liên vùng.

Nhà nước cần có cơ chế, chính sách huy động các nguồn lực tăng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn xây dựng hoàn thiện xây dựng nông thôn xanh, sạch, tiếp cận với các đô thị văn minh. Đa dạng hóa các hình thức đầu tư trong nông thôn, khuyến khích thu hút đhóa cátư nhân gnhâvnhân n đhóa các hình thnh thức đầu tư trong nông th; áp dụng phổ biến hình thức Nhà nước hỗ trợ vật tư để cộng đồng xây dựng cơ sở hạ tầng cấp thôn, xã.

Ba là, Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, phát huy lợi thế so sánh, sản xuất hàng hóa quy mô lớn theo chuỗi giá trị, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, phát triển bền vững.

Hoàn thiện thể chế phát triển nông nghiệp, chuyển mạnh nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng gắn với nhu cầu của thị trường. Phát triển nền nông nghiệp thông minh, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ thân thiện và bảo vệ môi trường sinh thái, tăng nhanh thu nhập cho nông dân, đồng thời bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia.

Đẩy mạnh quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, tạo lập môi trường thuận lợi khuyến khích tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Khẩn trương rà soát, điều chỉnh quy hoạch, phát huy những cây trồng, vật nuôi có lợi thế, có thị trường tiêu thụ, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo, trồng rừng, làm muối…; chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả, sử dụng linh hoạt đất trồng lúa, nâng cao giá trị sản xuất/ha đất nông nghiệp...đồng thời, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu liên kết. Rà soát, sửa đổi cơ chế, chính sách khuyến khích liên kết trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp. Phát triển, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và trở thành đầu tầu trong sản xuất nông nghiệp. Khuyến khích, tạo điều kiện hỗ trợ các hộ nông dân hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp sản xuất quy mô trang trại. Phát triển hợp tác xã kiểu mới thúc đẩy liên kết sản xuất giữa hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp theo chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp là "đầu tàu" của liên kết .

Tăng đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, đồng thời có cơ chế nhằm thu hút vốn, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ cao. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch. Xã hội hoá các dịch vụ công, mở rộng thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức công – tư  tạo cơ hội để doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Bốn là, Phát triển công nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông thôn

Phát triển công nghiệp cơ khí, chế tạo, sản xuất nông nghiệp, sản xuất máy móc, thiết bị, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, thủy sản phục vụ sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ nông lâm thủy sản, bảo đảm cung ứng kịp thời, chất lượng và hạ giá thành. Tới năm 2030, ít nhất 50% thiết bị, vật tư sử dụng trong nông nghiệp được sản xuất trong nước.

 Hình thành mạng lưới các cụm công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn tới các xã, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các doanh nghiệp công nghiệp, dịch vụ về nông thôn, nhất là các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động. Chú trọng phát triển thương mại nông thôn, nhất là vùng miền núi, biên giới. Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống; triển khai, thực hiện chương trình "Mỗi làng một sản phẩm". Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi lao động nông nghiệp sang lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ, đây là xu thế tất yếu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Năm là, Phát triển khoa học và công nghệ, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ trong nông nghiệp, nông thôn. Coi đây là khâu đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn phát triển. Hỗ trợ các thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu phát triển khoa học, công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn và thực hiện xã hội hoá để mở rộng hệ thống khuyến nông đến cơ sở. Phát triển khoa học và công nghệ, chuyển giao, ứng dụng công nghệ cao, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ chế biến và bảo quản... nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng và giá trị của các sản phẩm nông nghiệp.

Việc ứng dụng công nghệ và kỹ thuật cao cần được thực hiện một cách đồng bộ trong tất cả các khâu của sản xuất. Tập trung nghiên cứu phát triển giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ bảo quản và công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản; đồng thời nhập khẩu công nghệ cao, thiết bị hiện đại, các loại giống tốt. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học công nghệ theo hướng chuyển từ quản lý theo đề tài khoa học sang khoán đặt hàng sản phẩm khoa học công nghệ. Tăng tỷ trọng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ cho nông nghiệp theo tỷ lệ tương đương với mức trung bình của các nước tiên tiến trong khu vực. Tạo ra bước chuyển đột phá trong hoạt động nghiên cứu và áp dụng khoa học công nghệ, nâng tỷ lệ đóng góp của khoa học công nghệ và quản lý cho tăng trưởng của ngành.

 Sáu là, phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh trật tự, nâng cao chất lượng sống ở nông thôn

Nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe ban đầu và khám chữa bệnh. Thực hiện tốt chính sách dân số, phát triển văn hóa và cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" nâng cao dân trí, bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp ở nông thôn, bản sắc văn hóa dân tộc, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phong phú, lành mạnh, tiến bộ. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các thiết chế văn hóa thể thao cơ sở.

Thực hiện tốt dân chủ cơ sở, phát huy vai trò chủ thể của người dân nông thôn trong tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Chú trọng công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, huấn luyện kỹ năng, nghiệp vụ sản xuất kinh doanh. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội và môi trường nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân nông thôn để người dân nông thôn thực sự làm chủ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh xử lý các hành vi vi phạm trong nông nghiệp, nông thôn. Ngăn chặn tệ nạn xã hội, nâng cao chất lượng an ninh, đảm bảo cuộc sống thanh bình, an toàn giúp người dân yên tâm sản xuất. Giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp, khiếu kiện đông người, kéo dài từ cơ sở, không để trở thành "điểm nóng" về an ninh trật tự; nâng cao chất lượng phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc". Xây dựng và thực thi hiệu quả đề án "Nâng cao chất lượng, hiệu quả tiêu chí an ninh, trật tự trong xây dựng nông thôn mới".

Bẩy là, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lưc, hiệu quả quản lý nhà nước, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, phát huy vai trò chủ thể của người dân nông thôn.

Tổ chức đảng các cấp chủ động đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thực hiện sáng tạo Nghị quyết tại cơ quan, đơn va. Người đứng đầu cấp ủy trực tiếp tham gia chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới trên đia bàn. Thực hiện tốt phương châm "Đảng viên đi trước, làng nước theo sau".

Sắp xếp, đổi mới tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trên địa bàn nông thôn. Kiện toàn tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, chú trọng kiện toàn và đổi mới hoạt động của hệ thống dịch vụ công. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đạt chuẩn. Thường xuyên giáo dục đội ngũ cán bộ, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, công khai, minh bạch, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu tạo niềm tin, sự đồng thuận của người dân trong tổ chức thực hiện.

 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn đổi mới hoạt động, tham gia tích cực thực hiện các chủ trương của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thông qua tuyên truyền, vận động quần chúng, phát động thi đua, tổ chức phản biện, giám sát xã hội. Nâng cao chất lượng cuộc vận động " toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", phong trào thi đua " Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới".

Xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, nông thôn văn minh, người dân nông thôn giầu có là một quá trình lâu dài, khó khăn cần có sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp, sự đồng thuận của toàn xã hội trên cơ sở phát huy vai trò chủ thể của người dân nông thôn và được tiến hành một cách đồng bộ, nhất quán, kiên trì, bền bỉ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn./.

 


[1] Năm 2008 tốc độ tăng GDP ngành là 4,68%; giai đoạn 5 năm (2009 - 2013), GDP ngành tăng bình quân 2,9%/năm, giai đoạn 4 năm (2014 - 2017) GDP ngành tăng 2,57%/năm.

[2] Hội LH Phụ nữ Việt Nam phát động phong trào "5 không, 3 sạch".

[3] Tổng cục Thống kê: Tổng điều tra nông thôn, nông lâm thủy sản 2016