Bài 12: Xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay

 

Ban Kinh tế Trung ương trân trọng giới thiệu một số bài tham luận tại Hội thảo chuyên đề 1: "Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững vì một Việt Nam thịnh vượng" trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc và Triển lãm quốc gia về thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Bài 12: Xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay


                                                                                                                                                                      Nguyễn Minh Tiến

                                                             Cục trưởng - CVP nông thôn mới Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn                                                       

                                        

1. Đặt vấn đề

Trong vài thập kỷ trở lại đây, nông nghiệp, nông thôn nước ta liên tục phát triển, góp phần quan trọng ổn định tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng nâng cao giá trị sản xuất hàng hoá nông sản, dịch vụ, phát triển ngành nghề; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tăng cường, nhất là giao thông, thủy lợi, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn; đời sống vật chất, tinh thần của cư dân các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện; xóa đói giảm nghèo đạt thành tựu to lớn. Bên cạnh đó, hệ thống chính trị ở nông thôn do Đảng lãnh đạo được tăng cường, dân chủ cơ sở được phát huy, vị thế của giai cấp nông dân được nâng cao, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, những thách thức mới trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân vẫn không ngừng gia tăng, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước: một số vùng nông thôn đang phát triển thiếu sự quản lý về quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường nông thôn có xu hướng ô nhiễm cao, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai thấp; đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn dù đã được cải thiện đáng kể, nhưng vẫn còn ở mức thấp; chênh lệch giàu - nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc; các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn đổi mới chậm, chưa đủ sức phát triển mạnh sản xuất hàng hóa; công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn…

Những vấn đề trên đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) bàn và thống nhất ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn", là một bước cụ thể hóa nội dung "xây dựng nông thôn mới" trong Văn kiện Ðại hội X của Ðảng, đề ra các giải pháp nhằm đưa sản xuất nông nghiệp Việt Nam tiến lên theo hướng nâng cao giá trị hàng hóa, có khả năng cạnh tranh cao; nông thôn hiện đại, văn minh; nông dân có đời sống vật chất và tinh thần phát triển, không quá chênh lệch so với đô thị và giữa các vùng, miền, đóng góp hiệu quả vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cụ thể hoá tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 (tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010), xác định mục tiêu: "Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa", phấn đấu đến năm 2020, cả nước có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, đồng thời, phát động phong trào "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" nhằm động viên, khích lệ các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua xây dựng nông thôn mới.

2. Việc ban hành cơ chế, chính sách để triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020

a) Những cơ chế, chính sách đã ban hành và triển khai trong giai đoạn 2010 - 2015:

Trước khi Nghị quyết Trung ương 7 Khoá X ra đời, nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã được ban hành, nhưng chưa thực sự toàn diện. Chủ trương xây dựng nông thôn mới bước đầu được hiện thực qua việc Ban Bí thư Trung ương Đảng thành lập Ban Chỉ đạo thí điểm chương trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng đề án thí điểm thực hiện tại 11 xã  đại diện cho các vùng kinh tế - văn hoá trong cả nước. Đây là bước đi quan trọng để xác định rõ nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế, chính sách xây dựng nông thôn mới sau này. Qua thực tế triển khai thí điểm tại 11 xã cho thấy, những thay đổi tư duy đã được đề xuất, tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả nguồn lực còn rất hạn hẹp của Nhà nước, tăng cường sự tham gia của người dân và chính quyền cơ sở, nhất là vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới; thay đổi tư duy quản lý theo cách tiếp cận từ dưới lên, dựa vào cộng đồng, trao quyền cho cơ sở nhằm phát huy tiềm năng, nội lực trong nhân dân.

Để triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, trong giai đoạn 2010 - 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 18 Quyết định, 03 Chỉ thị và văn bản chỉ đạo; các Bộ, ngành đã ban hành 35 Quyết định, 34 Thông tư, văn bản hướng dẫn thực hiện các cơ chế, chính sách, nội dung Chương trình xây dựng nông thôn mới. Các Bộ, ngành Trung ương đã chủ động rà soát và ban hành các quy định, văn bản hướng dẫn chuyên ngành, điều chỉnh cho phù hợp với thực tế (sửa đổi, hướng dẫn tiêu chí trạm y tế của Bộ Y tế, tiêu chuẩn quốc gia về đường giao thông nông thôn - Bộ Giao thông vận tải; tiêu chí chợ - Bộ Công thương; tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch...).

Có thể nói, trong các chính sách xây dựng nông thôn mới, việc bám sát nguyên tắc đảm bảo vai trò, vị trí chủ thể của người dân địa phương là một bài học thành công, theo đó, các hoạt động quản lý trở nên minh bạch, người dân tích cực tham gia xây dựng và giám sát thực hiện. Chương trình xây dựng nông thôn mới đã huy động được nhiều nguồn lực để thực hiện, nhất là nguồn lực trong dân. Để tăng nguồn lực đầu tư, Quốc hội cho chủ trương về phát hành Trái phiếu Chính phủ đầu tư để thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. Nguồn vốn này được trao quyền chủ động cho các địa phương chủ động trên cơ sở tuân thủ tiêu chí ưu tiên của Quốc hội quy định và số vốn trung hạn 3 năm 2014 -2016 đã được thông báo. Do đã biết trước tổng số vốn được hỗ trợ trong trung hạn, nên việc phát sinh nợ đọng thuộc nguồn trái phiếu Chính phủ trong xây dựng nông thôn mới đã được kiểm soát tốt.

Về phát triển doanh nghiệp tại địa bàn nông thôn, chính sách ưu đãi đã dần hoàn thiện: Nghị định 61/2010/NĐ-CP và Nghị định số 210/2013/NĐ-CP (thay thế Nghị định 61) và các văn bản hướng dẫn theo hướng đơn giản, minh bạch, hấp dẫn và tăng khả năng tiếp cận của doanh nghiệp. Những sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 210 là bước chuyển biến tích cực, là cơ sở để kỳ vọng việc thu hút doanh nghiệp sẽ đạt kết quả khả quan hơn, góp phần tăng nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn.

Các cơ chế đầu tư cũng đã có nhiều đổi mới. Dự án đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng tại các xã, thôn, bản có thời gian thực hiện dưới 02 năm hoặc giá trị công trình đến 03 tỷ đồng, chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật (tại Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 21/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ). Chính sách này cũng quy định Ủy ban nhân dân xã là cấp quyết định đầu tư, phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật các công trình có mức vốn đầu tư đến 03 tỷ đồng có nguồn gốc từ ngân sách, bước đầu đã góp phần tiết kiệm kinh phí và nâng cao năng lực cán bộ cấp cơ sở.

Một điểm mới trong cơ chế đầu tư, là cơ chế giải phóng mặt bằng thông qua vận động, không áp dụng cơ chế đền bù thông thường. Đây là điểm có tính chất quyết định trong việc thực hiện các tiêu chí về hạ tầng. Xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn đã được xác định là một khâu đột phá, tuy nhiên, do thiếu quy hoạch từ trước, nên việc giải phóng mặt bằng hết sức phức tạp và với nhu cầu vốn rất lớn, vượt quá khả năng cân đối ngân sách Nhà nước và đóng góp của nhân dân. Xuất phát từ tư duy đây là chương trình của dân, phục vụ nhân dân, nên trong quá trình xây dựng chính sách, cơ chế khuyến khích người dân hiến đất đã ra đời. Từ quy định này, đã tạo sự đồng thuận và huy động được nguồn lực rất lớn từ nhân dân. Ví dụ như ở Hà Tĩnh, trong 3 năm (2011-2013) toàn tỉnh đã vận động nhân dân hiến trên 3 triệu m2 đất và đóng góp ngày công và tài sản trên đất trên 900 tỷ đồng.

Tiếp tục xu thế đổi mới, cơ chế  đầu tư đặc thù ra đời. Theo quy định này, đối với các công trình quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, các địa phương được áp dụng cơ chế đầu tư đặc thù, không cần phải lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, trên cơ sở thiết kế mẫu, thiết kế điển hình thì chỉ cần lập dự toán đơn giản, chỉ định cho người dân hoặc cộng đồng trong xã tự làm. Chính sách này tiếp tục là một thay đổi lớn. Nguồn lực của của Nhà nước chỉ mang tính "mồi", thu hút các nguồn vốn khác (người dân tham gia hiến đất, đóng góp vật liệu, ngày công...). Nhiều công trình đường ngõ xóm, giao thông thủy lợi nội đồng đã được thực hiện với nguồn vốn ngân sách Nhà nước chỉ tương đương khoảng 30-50% so với cách làm thông thường. Tại Thái Bình, trong 3 năm (2011-2013), kinh phí hỗ trợ của tỉnh bằng mua xi măng trả chậm khoảng gần 700 tỷ đồng, thì đã huy động được các doanh nghiệp, con em xa quê và nhân dân tại địa phương đóng góp khoảng trên 2.000 tỷ đồng và gần 64 triệu ngày công.

Nói chung, với những cơ chế đầu tư ngày càng minh bạch, phát huy được vai trò làm chủ của người dân, các nguồn lực xây dựng nông thôn mới đã được huy động và sử dụng có hiệu quả. Giai đoạn 2011-2015, đã huy động được khoảng 851.854 tỷ đồng đầu tư cho Chương trình xây dựng nông thôn mới, trong đó: ngân sách Nhà nước (bao gồm các chương trình, dự án khác) là 278.390 tỷ đồng (32,68%); tín dụng: 434.446 tỷ đồng (51%); doanh nghiệp: 41.741 tỷ đồng (4,9%); nhân dân góp: 97.282 tỷ đồng (11,42%). Riêng ngân sách Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình xây dựng nông thôn mới là 113.585 tỷ đồng (13,33%).

b) Những cơ chế, chính sách đã ban hành và triển khai trong giai đoạn 2016 - 2020:

Tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được trong giai đoạn 2010 - 2015, ngày 16/8/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020. Đây cũng chính là Quyết định nhằm cụ thể hóa  Nghị quyết số 100/2015/NQ-QH13, ngày 12/11/2015 của Quốc hội (khóa XIII) về phê duyệt chủ trương đầu tư các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020.

Nhằm tăng cường công tác chỉ đạo, định hướng sửa đổi, ban hành các chính sách để hỗ trợ xây dựng nông thôn mới hiệu quả, thiết thực, bền vững hơn trong giai đoạn 2016 - 2020, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 10 CT/TW, ngày 15/12/2016 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh"; Quốc hội (khóa XIV) đã ban hành Nghị quyết số 32/2016/NQ-QH14, ngày 23/11/2016 về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp; Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 36/CT-TTg, ngày 30/12/2016 của về việc đẩy mạnh thực hiện hiệu quả, bền vững Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020. Như vậy, có thể thấy rất rõ, công cuộc xây dựng nông thôn mới đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo rất lớn của Đảng và Nhà nước, là nền tảng căn bản để Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2 đạt hiệu quả cao hơn.

Tính từ cuối năm 2015 đến nay, đã có nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành ban hành để chỉ đạo, triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới, gồm: 01 Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng; 03 Nghị quyết của Quốc hội (Nghị quyết số 100/2015/QH13; Nghị quyết số 32/2016/QH14; Nghị quyết số 350/NQ-UBTVQH14); 06 Nghị định của Chính phủ (Nghị định số 23/2016/NĐ-CP; Nghị định số 161/2016/NĐ-CP; Nghị định số 52/2018/NĐ-CP; Nghị định số 57/2018/NĐ-CP; Nghị định số 58/2018/NĐ-CP; Nghị định số 98/2018/NĐ-CP); 16 Quyết định và 01 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; 19 Thông tư, Quyết định, văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương. Trong số các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, phải kể đến sự ra đời của một số Nghị định đã tạo ra rất nhiều chính sách thông thoáng hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn, như: Nghị định 161/2016 về cơ chế đặc thù trong quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án thuộc các Chương trình MTQG giai đoạn 2016 - 2020; Nghị định số 57/2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông thôn; Nghị định số 58/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp,...

3. Kết quả đạt được sau hơn 08 năm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

a) Thành tựu:

Hơn 08 năm qua, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế đất nước còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng cấp ủy, chính quyền các cấp, cả hệ thống chính trị và nhân dân cả nước đã chung sức, đồng lòng thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và đạt được nhiều kết quả nổi bật, làm cho bộ mặt nhiều vùng nông thôn khang trang, xanh, sạch, đẹp hơn; hạ tầng thiết yếu về giao thông, thủy lợi, văn hóa, y tế, giáo dục… được quan tâm đầu tư, nâng cấp, xây dựng; sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế và thu nhập cao; số hộ nghèo giảm nhanh, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn từng bước được cải thiện; hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố. Tính đến tháng 11/2018, cả nước có 3.597 xã (40,3%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, tăng 528 xã (5,92%) so với cuối năm 2017; bình quân cả nước đạt 14,33 tiêu chí/xã; còn 80 xã dưới 5 tiêu chí; 56 đơn vị cấp huyện thuộc 29 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, tăng 13 đơn vị cấp huyện so với cuối năm 2017. Đây là kết quả tất yếu của tinh thần chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đúng theo mong muốn của Thủ tướng Chính phủ khi phát động phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới".

Nhìn nhận một cách khách quan, có thể khẳng định, Chương trình xây dựng nông thôn mới hơn 08 năm qua, mặt được, mặt tích cực là nổi bật, góp phần làm thay đổi căn bản diện mạo nông thôn cả nước, từng bước làm giảm khoảng cách giữa nông thôn với đô thị, thể hiện ở một số điểm sau:

Thứ nhất, Chương trình xây dựng nông thôn mới đã làm thay đổi nhận thức của đa số người dân, lôi cuốn họ hăng say, nhiệt huyết tham gia đóng góp sức người, sức của để xây dựng nông thôn mới. Đặc biệt, từ chỗ số đông còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của Nhà nước, đã chuyển sang chủ động, xác định rõ lợi ích và trách nhiệm của mình với cộng đồng, xác định được vai trò chủ thể của cộng đồng tự lựa chọn công trình, phần việc thiết thực, phù hợp để xây dựng nông thôn mới tại địa phương, Nhà nước chỉ đóng vài trò định hướng, hướng dẫn và hỗ trợ. Ở đây, cần đặc biệt nhấn mạnh đến sức mạnh của công tác tuyên tuyền, vận động của toàn hệ thống chính trị, nhất là vai trò đầu tàu của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp.

Thứ hai, Bộ tiêu chí xã, huyện nông thôn mới; hệ thống cơ chế, chính sách để vận hành Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được hình thành cơ bản. Nhiều địa phương đã cụ thể hóa các chính sách của Trung ương, chủ động ban hành cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện của địa phương. Cơ chế trao quyền tự quyết cho cộng đồng (thôn, xã) đã phát huy tinh thần năng động, sáng tạo của các địa phương, sự tham gia của người dân, tạo nên sức mạnh to lớn của toàn xã hội thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới. Sự hỗ trợ của Nhà nước tuy hạn chế, nhưng đã được sử dụng có hiệu quả cao, kết hợp với sự đóng góp lớn của nhân dân. Ở những địa phương đã đạt chuẩn nông thôn mới, công tác chỉ đạo nâng cao chất lượng các tiêu chí được chú trọng, trong đó, đã có địa phương chủ động chỉ đạo thí điểm triển khai mô hình nông thôn mới kiểu mẫu.

Thứ ba, nông thôn mới đã trở thành hiện thực. Hệ thống hạ tầng nông thôn phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt nhiều vùng nông thôn. Sản xuất nông nghiệp hàng hóa được coi trọng và có chuyển biến; việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp đã được nhiều địa phương chỉ đạo thực hiện; mô hình hợp tác xã kiểu mới đã hình thành ở hầu khắp các xã, trong đó, nhiều hợp tác xã đã tham gia vào chuỗi liên kết phát triển sản xuất, góp phần tích cực nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của số lượng lớn dân cư nông thôn.

Thứ tư, vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở các cấp được phát huy, dân chủ ở nông thôn được nâng lên về chất. Ở những nơi xây dựng nông thôn mới thành công, niềm tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước được nâng cao; nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, tình làng nghĩa xóm trong cộng đồng dân cư ngày càng gắn bó, sâu sắc hơn.

Thứ năm, cả nước đã hình thành bộ máy chỉ đạo và tham mưu giúp việc đồng bộ từ Trung ương tới cơ sở, hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, là nòng cốt tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới hiệu quả, chất lượng. Đội ngũ cán bộ vận hành Chương trình xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở đã có tiến bộ rõ rệt, nhận thức đầy đủ hơn và chỉ đạo có hiệu quả hơn, nhất là trong việc xây dựng dự án, kế hoạch, vận động quần chúng và tổ chức, thực hiện dự án, thực hành dân chủ ở nông thôn.

b) Một số tồn tại, hạn chế:

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Chương trình xây dựng nông thôn mới vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần phải tập trrung khắc phục, như: Sự quan tâm thực hiện Chương trình có nơi, có lúc còn thiếu sâu sát, chưa thường xuyên và chặt chẽ; nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu, công tác chỉ đạo, điều hành sử dụng vốn của một số địa phương còn kèm hiệu quả, còn trông chờ vào nguồn lực của Trung ương; kết quả đạt được trong xây dựng nông thôn mới chưa đồng đều, còn khoảng cách lớn giữa các địa phương và vùng, miền; việc tổ chức thực hiện một số cơ chế, chính sách chưa thực sự quyết liệt, lúng túng, thiếu đồng bộ, một số văn bản hướng dẫn chưa sát thực tế, chậm bổ sung, sửa đổi; tổ chức sản xuất trong nông nghiệp còn chưa liên kết bền vững, cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới còn hạn chế; ở một số địa phương, việc xây dựng đời sống văn hóa còn hình thức, môi trường nông thôn vẫn tiếp tục bị đe dọa; biểu hiện bệnh thành tích làm cho không ít địa phương lạm dụng Bộ tiêu chí nông thôn mới để đầu tư quá mức vào hạ tầng, có nơi huy động người dân đóng góp quá sức, gây bức xúc trong nhân dân; việc đánh giá, công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới ở một số nơi còn hình thức, chưa thực chất; một số địa phương có dấu hiệu chững lại, cầm chừng...

4. Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng nông thôn mới hiện nay

Trong thực tiễn xây dựng nông thôn mới hiện nay, có một số vấn đề đang đặt ra, đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu, đánh giá để đề ra giải pháp cụ thể, đó là:

Thứ nhất, việc triển khai xây dựng nông thôn mới đang được thực hiện dựa trên Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 (được ban hành kèm theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ). Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, phải làm gì để khi xã đạt chuẩn nông thôn mới, ngoài việc đảm bảo tốt đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, phải giữ được bản sắc của nông thôn truyền thống? Phải làm như thế nào để vùng nông thôn phát triển hài hòa và bền vững?

Thứ hai, ở hầu hết các vùng nông thôn hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang ngày càng trở nên cấp bách. Tình trạng rác thải, nước thải chưa được thu gom, xử lý còn phổ biến, làm cho không ít địa phương đang bị ô nhiễm, cá biệt, có những nơi ô nhiễm rất nghiêm trọng (nhất là những vùng có làng nghề). Vậy, giải pháp nào để nông thôn Việt Nam sáng - xanh - sạch - đẹp? Bên cạnh đó, môi trường xã hội ở nông thôn cũng cần phải được chú trọng quan tâm, nhất là vấn đề gắn kết cộng đồng, tình làng nghĩa xóm, sự gắn kết trong các gia đình, dòng tộc...

Thứ ba, hiện nay, đã có trên 40,3% xã, 56 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Con số này sẽ còn tiếp tục tăng lên nhiều trong những năm tới. Vậy, sau đạt chuẩn nông thôn mới, các địa phương sẽ phải làm gì để hướng đến nông thôn mới kiểu mẫu (theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 691/QĐ-TTg ngày 05/6/2018)? Để hướng đến là xã, huyện nông thôn mới kiểu mẫu, vấn đề gì là cốt lõi? Việc đạt xã, huyện nông thôn mới kiểu mẫu, phải chăng là đưa ra các tiêu chí, chỉ tiêu định lượng cao hơn hẳn so với chuẩn của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới, tiêu chí huyện nông thôn mới, hay là còn hướng nào khác để phản ánh tốt hơn (như: tập trung vào việc nâng cao sự hưởng thụ của người dân về đời sống văn hóa, tinh thần, về an ninh trật tự và chất lượng các dịch vụ xã hội...)?

Thứ tư, thực trạng hiện nay cho thấy, việc xây dựng nông thôn mới đối với các địa phương vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và một số vùng bãi ngang ven biển gặp rất nhiều khó khăn do địa bàn rộng, địa hình phức tạp, dân cư thưa thớt và sống rải rác. Vậy, đối với những vùng này, song song với xây dựng nông thôn mới cấp xã, cần tập trung chỉ đạo xây dựng nông thôn mới ở cấp thôn, bản, ấp theo Quyết định số 1385/QĐ-TTg ngày 21/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ như thế nào?

5. Mục tiêu, nội dung, giải pháp xây dựng nông thôn mới đến 2020

Trên cơ sở những thành tựu về xây dựng nông thôn mới đã đạt được trong giai đoạn 2010 - 2015, ngày 16/8/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020,  xác định mục tiêu: "Xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững"; phấn đấu đến năm 2020, số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; khuyến khích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phấn đấu có ít nhất 01 huyện đạt chuẩn nông thôn mới; bình quân cả nước đạt 15 tiêu chí/xã; cả nước không còn xã dưới 5 tiêu chí; cơ bản hoàn thành các công trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của cư dân nông thôn: giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã; nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn; tạo nhiều mô hình sản xuất gắn với việc làm ổn định cho nhân dân, thu nhập tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2015.

Về giải pháp xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, để khắc phục những tồn tại, hạn chế và bất cập hiện nay, với mục tiêu xây dựng nông thôn mới thực sự hiệu quả, bền vững và đảm bảo chất lượng; nhằm quán triệt tinh thần Chỉ thị số 10 CT/TW ngày 15 tháng 12 năm 2016 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", Nghị quyết số 100/2015/NQ-QH13 ngày 12 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 32/2016/NQ-QH14 ngày 23 tháng 11 năm 2016 của Quốc hội, ngày 30 tháng 12 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 36/CT-TTg về việc đẩy mạnh thực hiện hiệu quả, bền vững Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, ngay từ đầu năm 2017, đặc biệt trong Quý I và Quý II năm 2018, Phó thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình MTQG đã trực tiếp chủ trì 03 Hội nghị toàn quốc để bàn, đưa ra những nội dung, giải pháp chỉ đạo quan trọng trên các lĩnh vực, nhằm đảm bảo việc xây dựng nông thôn mới hiệu quả, bền vững, cụ thể:

Một là, nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp và cả hệ thống chính trị trong xây dựng nông thôn mới, nhất là vai trò của người đứng đầu, phải xem xây dựng nông thôn mới là một cuộc cách mạng, một nhiệm vụ chính trị trọng tâm cần thực hiện kiên trì, kiên nhẫn, thường xuyên và liên tục, phải xác định xây dựng nông thôn mới "có điểm khởi đầu, nhưng không có điểm kết thúc".  Các ngành, các cấp phải quán triệt quan điểm xây dựng nông thôn mới với 19 tiêu chí chính là thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; vừa là mục tiêu, yêu cầu của phát triển bền vững, vừa là chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng và mang tính nhân văn sâu sắc của Đảng, Nhà nước.

Hai là, tiếp tục triển khai sâu rộng và thiết thực Phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" từ Trung ương đến cơ sở với nội dung, hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp thực tiễn, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong triển khai phong trào thi đua giai đoạn 2016 - 2020; chú trọng phát huy sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân; tạo sự đồng thuận của toàn xã hội, gắn phong trào thi đua với tiếp tục đẩy mạnh việc "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh" và các phong trào thi đua khác trên địa bàn cả nước; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể trong tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân chung sức xây dựng nông thôn mới thiết thực, hiệu quả hơn, tránh bệnh phô trương, chạy theo thành tích. Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới của từng cơ quan, cá nhân là một chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá thi đua và khen thưởng hàng năm. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền từ Trung ương đến địa phương về Chương trình xây dựng nông thôn mới, mở thêm các chuyên trang, chuyên mục, thêm thời lượng để phổ biến, phát hiện và biểu dương các mô hình hay, cách làm mới, các điển hình tiên tiến.

Ba là, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương tập trung rà soát lại tất cả các cơ chế, chính sách để thực hiện Chương trình hiệu quả; có cơ chế, chính sách thích hợp và đủ mạnh để thực sự khuyến khích việc ứng dụng khoa học - công nghệ, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn phát triển sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; chú trọng công nghiệp chế biến nông sản và công nghiệp thu hút nhiều lao động nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động và kinh tế nông thôn; đẩy mạnh hỗ trợ xây dựng nông thôn mới cấp thôn, bản, ấp ở vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng bãi ngang ven biển theo Quyết định số 1385/QĐ-TTg ngày 21/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ.

Bốn là, tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn, nhất là việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng và đảm bảo vệ sinh an toàn sản phẩm đồng thời thích ứng với biến đổi khí hậu; tập trung hỗ trợ hình thành liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị bền vững với quy mô sản xuất hàng hoá lớn đối với các nhóm sản phẩm chủ lực (cấp xã - huyện, cấp tỉnh và cấp quốc gia); đẩy mạnh chuyển đổi sang mô hình hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012; triển khai đồng bộ, hiệu quả Chương trình mỗi xã một sản phẩm (Chương trình OCOP), nhằm tạo ra các sản phẩm chủ lực ở mỗi làng, xã có sự hỗ trợ của Nhà nước trong đánh giá, xếp hạng sản phẩm, gắn "sao" cho các sản phẩm để hỗ trợ tiêu thụ hiệu quả hơn, nhưng phải đặc biệt chú trọng tạo dựng được "sao" trong lòng dân, tạo được niềm tin của người dân đối với chất lượng các sản phẩm.

Năm là, các địa phương cần quan tâm chỉ đạo thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới và quá trình đô thị hóa một cách hợp lý, phù hợp với tình hình thực tiễn từng vùng, miền, thích ứng với biến đổi khí hậu; khắc phục triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường đang có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng nguy hại đến đời sống của người dân nông thôn, đặc biệt là việc xử lý rác thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, vấn đề cung cấp nước sạch cho người dân nông thôn, nhất là ở các vùng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đối khí hậu…

Sáu là, đối với việc thực hiện Bộ tiêu chí nông thôn mới, từng địa phương phải xác định rõ tiêu chí bức xúc, trọng tâm để tập trung chỉ đạo, trong đó chú trọng các tiêu chí về đời sống người dân, an ninh, an toàn xã hội, văn hoá, môi trường và sự vững mạnh của hệ thống chính trị. Thực hiện nghiêm túc việc xem xét, công nhận xã, huyện đạt chuẩn nông thôn mới, đảm bảo thực chất, khách quan, nhất là về tiêu chí môi trường để tạo động lực thúc đẩy phong trào thi đua. Đối với các xã, huyện đã đạt chuẩn nông thôn mới, cần tập trung rà soát, xây dựng tiêu chí nông thôn mới ở mức cao hơn, nâng cao chất lượng các tiêu chí để tiếp tục xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 691/QĐ-TTg. Riêng đối với cấp thôn, các tỉnh, thành phố chủ động ban hành tiêu chí khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, vườn mẫu và tổ chức triển khai, đánh giá, công nhận, tạo nền tảng cho việc xây dựng xã nông thôn mới kiểu mẫu.

Bảy là, tiếp tục tăng cường và đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để thực hiện Chương trình. Trong quá trình triển khai, ngoài nguồn vốn ngân sách Trung ương đã cam kết, Chính phủ sẽ tập trung tìm nguồn lực khác, kể cả nguồn vốn vay từ các tổ chức tài chính quốc tế để bổ sung thêm; các địa phương chủ động lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn và các chương trình phát triển bền vững của Liên hợp quốc; huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; tăng cường các hình thức hợp tác công tư và xã hội hóa để thu hút đầu tư vào bảo vệ và xử lý môi trường, giao thông nông thôn, hạ tầng thương mại, cung cấp nước sạch, dịch vụ văn hóa - thể thao, dịch vụ y tế; có giải pháp khắc phục, hạn chế vấn đề nợ đọng xây dựng cơ bản sai quy định trên địa bàn nông thôn, công khai các khoản đóng góp của dân theo nguyên tắc tự nguyện và do hội đồng nhân dân xã thông qua, không được huy động quá sức dân.

Tám là, chú trọng kiện toàn Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia ở các cấp địa phương, trong đó Trưởng Ban Chỉ đạo là Bí thư cấp ủy hoặc Chủ tịch UBND cùng cấp. Kiện toàn và nâng cao năng lực bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo các cấp về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, triển khai thực hiện Chương trình OCOP theo hướng chuyên trách, chuyên nghiệp. Bố trí đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách về xây dựng nông thôn mới phải giỏi về chuyên môn, có tâm huyết để đáp ứng yêu cầu công việc, nhưng đảm bảo nguyên tắc không làm tăng phát sinh biên chế của từng cấp, từng ngành.

Chín là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng nông thôn mới; tiếp tục phát huy vai trò phản biện, giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng dân cư đối với xây dựng nông thôn mới. Định kỳ, MTTQ các cấp tổ chức điều tra, đánh giá sự hài lòng của người dân đối với tiến độ và kết quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.

Tóm lại, xây dựng nông thôn mới là một cuộc cách mạng to lớn, lâu dài, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi sự ủng hộ, vào cuộc tích cực của toàn xã hội. Vì vậy, cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp cần tiếp tục tuyên truyền, vận động và tổ chức cho nhân dân hăng hái tham gia, nhất là phát huy tốt những điểm mạnh, khắc phục triệt để những tồn tại, hạn chế. Với những thành tựu to lớn đã đạt được những năm qua, chúng ta cùng tin tưởng rằng, đến năm 2020, Chương trình xây dựng nông thôn mới cả nước sẽ đạt được nhiều kết quả to lớn hơn nữa, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII./.