Chuyên đề 2 - Bài 1: Giải pháp thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ phát triển toàn diện ngành lâm nghiệp

Ban Kinh tế Trung ương trân trọng giới thiệu một số bài tham luận tại Hội thảo chuyên đề 2: "Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn": trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc và Triển lãm quốc gia về thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Bài 1: Giải pháp thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ phát triển toàn diện ngành lâm nghiệp

 

NGND.GS.TS. Trần Văn Chứ

Trường Đại học Lâm nghiệp

1. MỞ ĐẦU

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Với gần ¾ tổng diện tích đất nước ta là đất đồi núi và là nơi sinh sống của khoảng 20 triệu đồng bào, chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số và cộng đồng dân cư nông thôn, lâm nghiệp có vai trò chiến lược quan trong trong việc: (i) bảo vệ môi trường sinh thái quốc gia; (ii) Phát triển kinh tế từ rừng; (iii) Phát triển nông thôn bền vững. Trong những năm qua ngành lâm nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc năm 2017 đạt 41.45%, kinh ngạch xuất khẩu gỗ năm 2017 đạt 8,06 tỷ USD (chiếm 6% thị phần đồ gỗ thế giới, đứng đầu trong khối ASEAN và đứng thứ 5 thế giới, tiềm năng có thể đạt 20 tỷ USD vào 2015). Diện tích rừng trồng sản xuất phát triển khá mạnh, từng bước cung cấp gỗ nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được thực hiện một cách đồng bộ và có hiệu quả cao. Năm 2017, cả nước đã thu được 1.709 tỷ đồng dịch vụ môi trường rừng, góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo cho người dân sống dựa vào nghề rừng. Đảng, Nhà nước và Chính phủ có  nhiều  chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn. Chính phủ cũng đã xác định lâm nghiệp là kinh tế đặc thù, phát triển Ngành Công nghiệp Chế biến gỗ và Lâm sản xuất khẩu trở thành một ngành mũi nhọn trong sản xuất, xuất khẩu của nền kinh tế quốc gia và sẽ được đầu tư trọng điểm.

Trước yêu cầu của thực tiễn, trong bối cảnh toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, vai trò, tiềm năng, lợi thế của Ngành Lâm nghiệp Việt Nam là rất to lớn. Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đạt được, vẫn còn một số khó khăn, tồn tại trong phát triển lâm nghiệp. Đối với rừng tự nhiên, diện tích và chất lượng rừng tự nhiên nước ta ngày càng suy giảm, việc phát huy giá trị và nguồn lợi (sản phẩm và dịch vụ) từ rừng tự nhiên còn rất thấp dẫn đến động lực bảo vệ và phát triển rừng tự nhiên của các chủ rừng chưa cao. Đối với sản xuất rừng trồng, năng suất và chất lượng gỗ rừng trồng còn thấp giá trị gia tăng lâm nghiệp còn thấp. Chế biến và tổ chức thị trường là hai khâu yếu trong Ngành Lâm nghiệp. Tổ chức sản xuất chưa chặt chẽ, thiếu sự gắn kết giữa khâu giống, trồng rừng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lâm sản, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, chưa có nhiều chuỗi sản xuất lâm nghiệp lớn. 

Mặc dù khoa học và công nghệ được coi là then chốt trong tổ chức và sản xuất lâm nghiệp; tuy nhiên công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất lâm nghiệp ở nước ta còn nhiều bất cập. Tỷ lệ ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất lâm nghiệp còn thấp và hạn chế, công tác nghiên cứu chưa bám sát với thực tiễn. Chất lượng nguồn nhân lực còn chưa cao, thiếu về số lượng và yếu về chất lượng; máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phụ trợ phải nhập khẩu nhiều. Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung khoa học và công nghệ (KH&CN) Ngành Lâm nghiệp Việt Nam vẫn còn có khoảng cách khá xa so với thế giới và khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu là nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, cần thực hiện những giải pháp đồng bộ thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến nhằm phát triển toàn diện ngành Lâm nghiệp trong thời gian tới.

2. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG LÂM NGHIỆP

2.1. Kết quả chính đạt được

Trong giai đoạn 2013-2017, thực hiện Kế hoạch thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ tái cơ cấu Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững theo QĐ số 986/QĐ-BNN-KHCN ngày 9/5/2014 của Bộ NN&PTNT; góp phần thực hiện Đề án tái cơ cấu Ngành Lâm nghiệp (QĐ 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 8/7/2013) thực hiện mục tiêu "Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới", các đơn vị nghiên cứu và chuyển giao lâm nghiệp đã ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu về chọn tạo, phát triển sản xuất các giống cây lâm nghiệp sinh trưởng nhanh (Keo, Bạch đàn), cây bản địa gỗ lớn, cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có lợi thế cạnh tranh cao; nghiên cứu quy trình, công nghệ tiên tiến trong chế biến gỗ, LSNG và nguyên liệu phụ trợ trong sản xuất đồ mộc; xây dựng các gói kỹ thuật tối ưu về chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn và kỹ thuật trồng rừng thâm canh cho các loài cây trồng rừng chủ lực và chủ yếu.

Một số kết quả nghiên cứu chính: Giống và công nghệ sinh học (CNSH),  Lâm sinh, Quản lý bảo vệ và phát triển rừng, Công nghiệp rừng và Chế biến lâm sản (CBLS), Kinh tế và chính sách...

Cho đến nay, toàn Ngành Lâm nghiệp đã có 110 giống cây lâm nghiệp được công nhận (14 giống Quốc gia và 96 giống tiến bộ kỹ thuật); 13 tiến bộ kỹ thuật (Lâm sinh: 7 tiến bộ kỹ thuật và Công nghiệp rừng: 6 tiến bộ kỹ thuật); Xây dựng 76 tiêu chuẩn (26 tiêu chuẩn lâm sinh, 49 tiêu chuẩn công nghiệp rừng, 01 quy chuẩn kỹ thuật). Cấp bằng độc quyền sáng chế/bằng độc quyền giải pháp hữu ích/chứng nhận đăng ký quyền tác giả 10 [1].

Xây dựng các phần mềm phát hiện sớm và truyền tin cháy rừng từ ảnh vệ tinh và phần mềm giám sát và phát hiện sớm mất rừng, suy thoái rừng ở Việt Nam. Phần mềm điều tra kiểm kê rừng Việt Nam và tham gia xây dựng hướng dẫn kỹ thuật điều tra và kiểm kê rừng toàn quốc. Phần mềm và bản hướng dẫn đánh giá tác động môi trường rừng trồng cao su. Phát triển hệ thống quản lý thông tin Ngành Lâm nghiệp. Đã triển khai dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc: xây dựng biện pháp kỹ thuật điều tra và kiểm kê rừng, trực tiếp chuyển giao công nghệ cho 39 tỉnh thành có rừng trong toàn quốc.

Khuyến lâm: Chương trình trồng rừng thâm canh cây nguyên liệu (keo, bạch đàn): Xây dựng được khoảng 18.600 ha mô hình trình diễn cây nguyên liệu gồm có các loài cây: Keo tai tượng có xuất xứ từ Úc, Bạch đàn lai, Keo lai, Bạch đàn và Keo tai tượng; Chương trình trồng rừng thâm canh cây Lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng: triển khai xây dựng được khoảng 5.600 ha mô hình trình diễn bao gồm các loài cây chủ yếu: Thảo quả, Ba kích, Trám lấy quả, Tre lấy măng, Mây nếp, Mắc ca,... các loài cây làm dược liệu dưới tán rừng như Kim tiền thảo, Sa nhân tím,… tập trung chủ yếu ở các tỉnh Miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ. Chương trình trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn phục vụ chế biến gỗ và xây dựng: Xây dựng trên 3.200 ha mô hình trình diễn trồng thâm canh cây gỗ lớn bao gồm các loài cây mọc nhanh, cây bản địa với các phương thức khác nhau nhằm góp phần cung cấp nguyên liệu gỗ lớn cho chế biến, xuất khẩu. Một số loài chính như: Lát hoa, Keo tai tượng, Xoan ta, Gáo, Giổi xanh… Thông qua các chương trình khuyến lâm đã góp phần thay đổi được nhận thức của người dân từ kỹ thuật chọn giống, cách chăm sóc và khai thác và bảo vệ rừng của người dân đã nâng cao chất lượng và số lượng. Bên cạnh đó, nhận thức của người dân đã thay đổi từ khai thác rừng tự nhiên chuyển sang bảo vệ và phát triển rừng trồng thâm canh, tăng năng suất, chất lượng và độ che phủ rừng đã tăng 35% trong thập kỷ 90 lên đến 41.45% vào năm 2017.

2.2. Những tồn tại, hạn chế ứng dụng khoa học công nghệ

2.2.1. Khó khăn chung của Ngành Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp bị chi phối mạnh bởi điều kiện tự nhiên, giao thông khó khăn, địa bàn hiểm trở, kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, tập quán sản xuất ở vùng sâu, vùng xa còn manh mún, phong tục tập quán lạc hậu, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, người dân địa phương chưa được tiếp cận nhiều với khoa học kỹ thuật. Cây lâm nghiệp là cây trồng lâu năm nên chu kỳ kinh doanh dài dẫn đến việc chăm sóc và bảo vệ rừng khó khăn, nhiều rủi ro (như biết động thị trường, giá cả, cháy rừng, gió bão...

Vì thế dẫn đến:

(i) Việc  tạo thu nhập từ rừng còn thấp và gặp nhiều trở ngại.

 (ii) Tính hấp dẫn và khả năng thu hút đầu tư cũng như huy động vốn để thực hiện các dự án ứng dụng chuyển giao KHCN trong ngành lâm nghiệp thấp có tính rủi ro cao hơn so với các lĩnh vực khác.

Địa bàn hoạt động lâm nghiệp rộng (từ miền núi đến vùng ven biển), trong  khi đó Việt Nam được dự báo là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng của biến đổi khí hậu dẫn đến khó khăn cả trong việc quy hoạch và chọn cây giống phù hợp cho cho từng vùng sinh thái.

Tình trạng phá rừng, khai thác rừng tự nhiên, chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích sang đất khác còn diễn ra phức tạp ở một số địa phương do dân số tăng mạng và lợi ích kinh tế từ rừng tự nhiên còn rất thấp.

Đối với rừng trồng, sản phẩm rừng trồng chủ yếu là rừng gỗ nhỏ, giá trị thu nhập bình quân trên 01 ha rừng trồng mới đạt khoảng 8-10 triệu đồng/ha/năm, tỷ trọng thu nhập từ lâm nghiệp nhìn chung chiếm 25% trong tổng thu nhập của người dân địa phương. Tỷ lệ gỗ rừng trồng có chứng chỉ hợp pháp còn thấp, chất lượng gỗ không cao và chưa đáp ứng được yêu cầu về nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu, nhất là trước yêu cầu truy xuất xuất xứ nguyên liệu theo các Hiệp định Thương mại thế hệ mới... Trình độ tay nghề lao động lâm nghiệp thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, trồng rừng vẫn chủ yếu là quảng canh.

Quản trị doanh nghiệp, công nghệ chế biến; chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của ngành vẫn chưa cao. Quy mô sản xuất phổ biến còn nhỏ (khoảng 93% doanh nghiệp chế biến gỗ ở quy mô vừa và nhỏ), kết cấu hạ tầng yếu kém; quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ còn lạc hậu. Năng suất lao động trong chế biến lâm sản của Việt Nam còn thấp, chỉ bằng 50% so với Philipines, 40% so với Trung Quốc; chất lượng, mẫu mã sản phẩm kém cạnh tranh. Công nghiệp phụ trợ, vật tư phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp gần như bỏ ngỏ, phụ thuộc vào nhập khẩu.

Do đặc thù của Ngành Lâm nghiệp là nghiên cứu phải tiến hành trong thời gian dài (đối với giống cây lâm nghiệp), trong khi đó, phần lớn các nghiên cứu có thời gian thực hiện ngắn, chưa phát huy được hiệu quả, cần có thời gian dài để tiếp tục theo dõi đánh giá mới có thể tạo ra các sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của sản xuất.

2.2.2. Năng lực khoa học và công nghệ còn nhiều hạn chế

Nhìn chung, hệ thống máy móc, trang thiết bị của các viện nghiên cứu/trường đại học về lâm nghiệp còn rất thiếu, không đồng bộ, lạc hậu so với những cơ sở sản xuất tiên tiến cùng ngành. Cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu khoa học ít được đầu tư, trang thiết bị còn lạc hậu so với yêu cầu của thực tiễn và xu thế phát triển. Hiện trường nghiên cứu thực nghiệm của các đơn vị nghiên cứu và chuyển giao công nghệ nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Rất khó có thể để xây dựng các thí nghiệm cho các loài cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài ngày, khó được các tổ chức, cá nhân chấp nhận.

Hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tư vấn chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng của Ngành còn hạn chế cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của sản xuất và hội nhập quốc tế. Ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất và quản lý sản xuất lâm nghiệp còn hạn chế. Công tác sở hữu trí tuệ, quảng bá và thương mại hóa sản phẩm KH&CN. Thương mại hóa sản phẩm KH&CN trong lĩnh vực lâm nghiệp còn khá yếu.

Hợp tác quốc tế trong các hoạt động KH&CN thuộc lĩnh vực lâm nghiệp còn tương đối ít mặc dù thế mạnh của Ngành với quốc tế rất được chú trọng. Các dự án quốc tế lớn triển khai tại Việt Nam về lâm nghiệp còn rất ít. Do vậy, chưa có đủ nguồn lực để triển khai các nhiệm vụ giải quyết các vấn đề quan trọng của ngành. Hơn nữa, thiếu sự hợp tác chặt chẽ về nghiên cứu KH&CN, viện nghiên cứu/trường đại học và sản xuất - kinh doanh;

2.2.3. Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật còn hạn chế

Một số hạn chế chính trong ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ lâm nghiệp như sau :

Giống cây lâm nghiệp được công nhận nhiều, nhưng chuyển giao các giống đó vào thực tế sản xuất và được xã hội chấp nhận còn rất ít, chủ yếu tập trung cho Keo, Bạch đàn, Thông, Maccadamia, Tràm lấy tinh dầu. Tiến bộ kỹ thuật (TBKT) mới được công nhận chưa nhiều, đặc biệt là không có TBKT liên quan đến cây bản địa. Cây lâm nghiệp là cây dài ngày, kết quả nghiên cứu trong giai đoạn 5 năm chưa thực sự rõ nét, đặc biệt có những nhiệm vụ kéo dài 2 giai đoạn cũng không công nhận được TBKT làm hạn chế công tác chuyển giao.

Các nhiệm vụ nghiên cứu tập trung nhiều cho cây mọc nhanh, cây bản địa, LSNG. Các nghiên cứu liên quan đến rừng tự nhiên, môi trường rừng và BĐKH, nông lâm kết hợp,  kinh tế chính sách Lâm nghiệp còn rất hạn chế.

Trong những năm gần đây thiếu những nghiên cứu cơ bản tạo nền tảng cơ sở khoa học cho một số lĩnh vực lâm nghiệp, đặc biệt là các nghiên cứu cơ sở kinh doanh các hệ sinh thái rừng đặc thù như ở các vùng sinh thái khô hạn, ngập phèn, ngập mặn, cơ sở dữ liệu đặc tính gỗ và lâm sản làm cơ sở cho định hướng sử dụng.

Định hướng phát triển khoa học công nghệ, các nhiệm vụ khoa học công nghệ trọng tâm còn chưa thật sự rõ ràng, dàn trải. Rất ít có chương trình nghiên cứu dài hạn để giải quyết vấn đề cho đến kết quả cuối cùng để thương mại hóa. Các đề xuất chưa tập trung, tản mạn, nhỏ lẻ, chưa có chương trình KHCN lớn, tính ứng dụng cao, tính liên ngành. Một số lĩnh vực quan trọng của ngành lâm nghiệp nhưng chưa có chương trình lớn tổng thể về phát triển chế biến gỗ và lâm sản; Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; Ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ các làng nghề chế biến gỗ, mây tre giang.

2.2.4. Quản lý khoa học công nghệ còn nhiều bất cập

Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ chậm được đổi mới, còn mang nặng tính hành chính: Các nhiệm vụ KH&CN chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Cơ chế quản lý các tổ chức KH&CN không phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và thể chế kinh tế thị trường.

Các quy định về sở hữu trí tuệ chưa đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của các đơn vị nghiên cứu về sản phẩm KH&CN trong lĩnh vực lâm nghiệp như giống, quy trình kỹ thuật (bón phân, phòng trừ sâu bệnh hại, thu hoạch, chế biến…). Chưa có biện pháp hữu hiệu trong việc quản lý tình trạng sản xuất một cách tràn lan giống cây trồng và các sản phẩm lâm nghiệp không rõ nguồn gốc [2].

3. NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG LÂM NGHIỆP

3.1. Nguyên nhân về cơ chế chính sách và đầu tư cho khoa học công nghệ

Trong nhiều năm qua, mặc dù Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ luôn coi Ngành Lâm nghiệp là trọng điểm, mũi nhọn và giữ lá phổi xanh cho Quốc gia, nhưng nhìn nhận của xã hội chưa thấu đáo với Ngành. Tính cấp bách của giữ rừng, tái tạo rừng và chuỗi hành trình sản phẩm chưa cao. Ngay như Ngành Chế biến gỗ và LSNG là lĩnh vực có kim ngạch xuất khẩu cao cũng chưa được đầu tư trọng điểm. Đầu tư của xã hội cho KH&CN trong lâm nghiệp còn rất thấp, đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanh nghiệp, đặc biệt chưa thu hút được các doanh nghiệp lâm nghiệp, chế biến gỗ đầu từ cho nghiên cứu phát triển công nghệ do chưa có chính sách được ưu tiên vay vốn với lãi suất ưu đãi khuyến khích các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị sản xuất ứng dụng KH&CN, nhất là công nghệ cao; chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ chế biến gỗ và lâm sản, sản xuất quy mô lớn.

Cơ chế đầu tư và chính sách cho KH&CN chưa đáp ứng kịp đòi hỏi của thực tế hoạt động KH&CN. Các chương trình KH&CN trọng điểm, mục tiêu quốc gia về KH&CN về phát triển lâm nghiệp vẫn chưa được đổi mới rõ nét. Đầu tư còn dàn trải và thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc xã hội hóa nguồn kinh phí nghiên cứu khoa học còn chậm, tỷ lệ đầu tư ngoài ngân sách cho Lâm nghiệp còn thấp, chưa có giải pháp hữu hiệu để huy động được các nguồn lực đầu tư của doanh nghiệp và toàn xã hội cho khu vực này.

Tốc độ đổi mới công nghệ còn rất chậm, hoạt động ứng dụng khoa học và công nghệ mới trong sản xuất lâm nghiệp chưa hiệu quả. Chưa có các chương trình đầu tư trọng điểm, đặc biệt cho các trường đại học/học viện/viện nghiên cứu. Thực tế, hoạt động ứng dụng khoa học công nghệ mới trong sản xuất lâm nghiệp trong thời gian qua mang tính tự phát, manh mún, thiếu đồng bộ, sức lan tỏa chưa cao, chưa phù hợp điều kiện sản xuất thực tiễn. Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế này là chính sách khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất lâm nghiệp cũng còn nhiều bất cập; người dân, doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay nên ngay cả khi có nhu cầu đổi mới công nghệ, đồng bộ trang thiết bị phục vụ sản xuất thì vẫn gặp khó khăn khi thực hiện.

Địa bàn triển khai thực nghiệm xây dựng mô hình lâm nghiệp khó khăn, thiếu đất (thuê địa bàn) làm giảm tính chủ động, phát triển mở rộng, chăm sóc mô hình sau khi đề tài, dự án kết thúc.

Trong tổng nguồn vốn đầu tư, đầu tư cho khoa học công nghệ chiếm tỷ trọng rất nhỏ, với chỉ đạt 0.53%-0.6% so với tổng đầu tư cho Ngành Lâm nghiệp [3]. Như vậy, có thể thấy việc ứng dụng công nghệ mới, năng suất, chất lượng rừng trồng ... đều đang còn khó khăn, hạn chế. Kinh phí dành cho nghiên cứu cơ bản không có, chưa có kinh phí lớn, dài hạn cho các đề nghiên cứu. Hệ thống thông tin khoa học công nghệ nói chung và thị trường khoa học công nghệ nói riêng còn chưa được quan tâm phát triển do thiếu chính sách thúc đẩy.

 3.2. Nguyên nhân về kỹ thuật

Đội ngũ cán bộ KH&CN còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, các "tổng công trình sư", đặc biệt là thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao và chuyên gia đầu đàn tạo ra các sản phẩm có dấu ấn cho xã hội. Cơ cấu nhân lực KH&CN theo ngành nghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý.

Nghiên cứu chưa bám sát với thực tiễn, thị trường máy móc, vật tư phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp gần như bị bỏ ngỏ và phụ thuộc vào nhập khẩu. Công nghệ sinh học và công tác tạo giống chưa phát huy hiệu quả mạnh trong sản xuất cây giống…

Các tổ chức kinh tế hợp tác, các mô hình liên kết trong tổ chức sản xuất Lâm nghiệp chưa phát triển so với yêu cầu và còn kém hiệu quả. Liên kết doanh nghiệp chế biến gỗ với chủ rừng còn rất ít, chưa thể hiện sự phát triển kém bền vững.

Công tác phối hợp nghiên cứu, đặc biệt với các doanh nghiệp vẫn còn hạn chế, chưa thu hút được các doanh nghiệp lớn tham gia nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao KH&CN.

Hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ còn hạn chế; năng lực và kỹ năng chuyển giao công nghệ của các tổ chức triển khai còn hạn chế, đặc biệt ở cấp cơ sở.

4. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG KHOA HỌC PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN TRONG LÂM NGHIỆP

4.1. Quan điểm

Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất lâm theo chuỗi giá trị lâm sản  từ tạo giống, trồng, chăm sóc rừng, đến công nghệ chế biến nhằm nâng cao năng suất, giá trị gia tăng cho sản phẩm từ rừng trồng, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu ngày càng tăng cho ngành chế biến gỗ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

4.2. Mục đích đổi mới toàn diện về ứng dụng khoa học công nghệ

 Mục đích đổi mới toàn diện về ứng dụng khoa học công nghệ góp phần làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm lâm nghiệp, tạo các sản phẩm chủ lực ngành lâm nghiệp theo yêu cầu định hướng của mỗi địa phương, nâng cao chuỗi giá trị sản xuất lâm nghiệp; Nghiên cứu chọn tạo, nhập khẩu giống tốt, hiện đại hóa phương thức tổ chức sản xuất và quản lý giống cây lâm nghiệp theo hướng công nghiệp tin học hóa; phát triển kỹ thuật thâm canh rừng trồng; phát triển ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến trong điều tra theo dõi tài nguyên rừng rừng và chế biến lâm sản; Tổ chức đẩy mạnh mở rộng diện tích rừng trồng có chứng chỉ rừng quản lý bền vững đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; Phát triển các mô hình sinh kế và nâng cao đời sống người dân gắn với phát triển rừng.

4.3. Đề xuất các giải pháp thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ trong lâm nghiệp

4.3.1. Tập trung vào nghiên cứu các lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn của Ngành; Phát triển công nghệ lâm nghiệp thông minh cho một số lĩnh vực

Tập trung vào nghiên cứu các lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn của Ngành Lâm nghiệp để tạo ra các sản phẩm đột phá, như: công nghệ giống và công nghệ sinh học, công nghệ gen tạo ra các giống cây lâm nghiệp tăng trưởng nhanh, chống chịu với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; nghiên cứu tạo ra các vật liệu mới trong chế biến lâm sản.

Xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển các phần mềm ngành Lâm nghiệp ứng dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ cho công tác quản lý, giám sát, theo dõi diễn biễn tài nguyên rừng; truy xuất nguồn gốc xuất xứ gỗ và lâm sản.

Sinh thái rừng: mối quan hệ của cá thể và quần thể rừng với các yếu tố bên ngoài, đáp ứng yêu cầu về giám sát tình trạng sinh trưởng phát triển và năng suất rừng.

Môi trường rừng: hiệu quả của rừng với cải thiện và ổn định các yếu tố môi trường, đáp ứng yêu cầu về giám sát môi trường rừng và thương mại môi trường rừng.

Hoàn thiện các quy trình trồng rừng và nuôi rừng: hiệu quả của những biện pháp tác động tới số lượng và chất lượng sản phẩm từ rừng, hệ thống tích hợp các biện pháp tác động để đạt hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng ở mức cao.

Dịch bệnh và cháy rừng: phương tiện, thiết bị, quy trình dự báo, cảnh báo, phát hiện sớm, phòng, chống dịch bệnh và cháy rừng.

Chế biến gỗ và Lâm sản: Ứng dụng các phần mềm trong truy xuất nguồn gốc xuất xứ gỗ, kiểm soát chất lượng sản phẩm gỗ, ứng dụng rô bốt thông minh, công nghệ in 3D, gia công gỗ công nghệ cao.

Hệ thống thiết bị và phần mềm cung cấp thông tin khoa học và tư vấn lâm nghiệp trực tuyến trên cở sở trí tuệ nhân tạo.

4.3.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền; xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích ứng dụng, chuyển giao thành tựu khoa học công nghệ

 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò nền tảng, động lực, giải pháp đột phá của KH&CN, Ngành Lâm nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội, về vai trò của rừng và các tác động của rừng đối với xã hội.

Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ, thúc đẩy, kích cầu thị trường KH&CN, đặc biệt là thị trường giống cây lâm nghiệp và thiết bị công nghệ chế biến gỗ. Xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ đối với các lĩnh vực sản xuất, các sản phẩm trọng điểm, sản phẩm chủ lực của ngành Lâm nghiệp: Đồ gỗ xuất khẩu từ gỗ rừng trồng; ván nhân tạo.

Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng và thực hiện lộ trình cấp chứng chỉ rừng gỗ hợp pháp.

Hỗ trợ phát triển hàng hóa, thương mại hóa sản phẩm KH&CN, phát triển tài sản trí tuệ, khuyến khích hoạt động nghiên cứu chuyển hóa, ứng dụng công nghệ hiện đại nhập của nước ngoài cho một số lĩnh vực trọng điểm: Giống cây mọc nhanh, giống cây thích ứng biến đổi khí hậu; Chế biến gỗ công nghệ cao.

Hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thị trường; tìm kiếm, mua công nghệ nguồn, công nghệ cao trong một số ngành, lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm. Tạo điều kiện cho các viện nghiên cứu, tổ chức KH&CN, trường đại học/học viện giới thiệu sản phẩm KH&CN, công nghệ mới.

Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp có hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là những người có ý tưởng công nghệ mới, có mô hình kinh doanh sáng tạo và chấp nhận rủi ro để đưa những sản phẩm, dịch vụ lâm nghiệp ra thị trường.

Hỗ trợ liên kết trong xuất khẩu lâm sản, đặc biệt là các mặt hàng lâm sản qua chế biến theo chuỗi ổn định nhằm gắn kết chặt lợi ích giữa người sản xuất với các doanh nghiệp chế biến, doanh nghiệp. Đa dạng hóa hoạt động xúc tiến xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, khuyến khích các cá nhân, đơn vị tham gia xây dựng, cải tiến và đổi mới mẫu mã, thương hiệu sản phẩm.

Khuyến khích các trường đại học, học viện, cao đẳng tham gia nghiên cứu và chuyển giao KH&CN thông qua việc đẩy mạnh phương thức đặt hàng giao trực tiếp trong lĩnh vực KH&CN.

Ưu tiên các trường đại học, học viện, cao đẳng tập trung nghiên cứu cơ bản kết hợp với nghiên cứu ứng dụng và đào tạo nguồn nhận lực đồng thời tạo ra sản phẩm, quy trình công nghệ cao phục vụ phát triển sản phẩm quốc gia, sản phẩm chủ lực của Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông qua việc đầu tư có trọng tâm, trọng điểm phục vụ nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật, tạo ra đột phá trong phát triển nông nghiệp và nông thôn.

Hỗ trợ cho các doanh nghiệp phát triển ứng dụng sản phẩm mới là kết quả của các nhiệm vụ KH&CN thông qua các ưu đãi về giảm thuế, thuê đất đai; thông tin quảng bá sản phẩm và xúc tiến thương mại

Hỗ trợ các địa bàn khó khăn ứng dụng KH&CN kết hợp xây dựng mô hình sinh kế cho người dân ở các vùng miền núi khó khăn, đặc biệt các mô hình trồng rừng ở các tỉnh miền núi phía Bắc và các tỉnh phía Đồng bằng sông Cửu Long và các mô hình phát triển cây lâm sản ngoài gỗ (như dược liệu) dưới tán rừng.

Ưu tiên, hỗ trợ cho doanh nghiệp sử dụng người địa phương tại các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có đầu tư đổi mới công nghệ (Chế biến gỗ và lâm sản tại các vùng khó khăn ở miền núi).

Tăng vốn đầu tư cho KH&CN so với tổng đầu tư cho Ngành Lâm nghiệp, đảm bảo tối thiểu 2% theo quy định.

Xây dựng và thực hiện quy hoạch chiến lược phát triển lâm nghiệp trọng tâm cho từng vùng sinh thái. Mỗi địa phương cần xác định các nhóm sản phẩm Lâm nghiệp chủ lực phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của từng vùng, trên cơ sở đó tập trung đẩy mạnh ứng dụng chuyển giao KH&CN để gia tăng giá trị sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất lâm nghiệp.

4.3.3. Đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao

Đào tạo chuyển giao công nghệ cho người dân tiếp cận sử dụng các loại máy móc, thiết bị trong bảo quản, sơ chế LSNG và chế biến lâm sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Giảm tối đa việc bán nguyên liệu thô và những sản phẩm không đạt chất lượng. Hằng năm cần có điều tra đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm và nhân rộng những mô hình hiệu quả.

Tổ chức đào tạo về quản lý công nghệ, quản trị công nghệ và cập nhật công nghệ mới cho các kỹ sư, lao động trong các doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm nghiệp

Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên gia KH&CN mạnh tại các viện nghiên cứu/trường đại học trong lĩnh vực lâm nghiệp có tâm huyết, đủ năng lực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ  mới mang tính chuyên môn hóa cao, có kinh nghiệm thực tiễn, có kỹ năng làm việc độc lập trong môi trường quốc tế, tập chung cho các lĩnh vực  khoa học trọng điểm của Ngành Lâm nghiệp: Giống cây lâm nghiệp, công nghệ tế bào, gen, chế biến gỗ và lâm sản, giám sát tài nguyên rừng công nghệ cao.

Xây dựng kế hoạch đào tạo sau đại học (tiến sĩ, thạc sĩ theo chuyên ngành) trong nước và ngoài nước từ các nguồn khác nhau; gắn đào tạo sau đại học với việc tham gia triển khai các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.

Khuyến khích, ưu tiên hỗ trợ để các cán bộ chủ trì/tham gia đề tài, dự án được cử đi học tập ngắn hạn tại các nước phát triển, tham gia các hội nghị, hội thảo chuyên ngành phục vụ trực tiếp cho việc triển khai đề tài, dự án, đặc biết là hợp tác quốc tế về KH&CN ở các lĩnh vực ưu tiên.

Nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ; vai trò của việc đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích,… đối với các sản phẩm KH&CN, quy trình kỹ thuật trong việc chuyển giao ứng dụng vào thực tiễn sản xuất mang lại hiệu quả và tính bền vững.

4.3.4. Tăng cường đầu tư, nâng cao năng lực các tổ chức nghiên cứu và chuyển giao (trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức KHCN)

Rà soát, sắp xếp lại, tăng cường đầu tư nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động các phòng thí nghiệm phục vụ công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Tập trung đầu tư xây dựng các trung tâm nghiên cứu trọng điểm và chuyển giao công nghệ quốc gia, trung tâm kiểm định, phòng thí nghiệm quốc gia về giống cây lâm nghiệp; chế biến gỗ công nghệ cao; Những trung tâm này thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, đào tạo sau đại học, trao đổi học thuật với các chuyên gia quốc tế trong phát triển khoa học và công nghệ và trực tiếp hỗ trợ cho các hoạt động kiểm định và đổi mới khoa học và công nghệ lâm nghiệp.

Xây dựng thư viện điện tử về cơ sở dữ liệu KHCN, các công trình nghiên cứu KHCN trong và ngoài nước để đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.

Rà soát hệ thống khuyến nông từ trung ương đến địa phương; Đào tạo tập huấn để nâng cao trình độ cán bộ khuyến nông địa phương; Xây dựng hệ thống mạng lưới khuyến nông địa phương tham gia chuyển giao công nghệ, gắn với đào tạo nghề cho nông dân trên sản phẩm có lợi thế của từng vùng.

Đẩy mạnh việc thành lập các doanh nghiệp KH&CN trong lĩnh vực lâm nghiệp và phát triển nông thôn, tăng cường đầu tư cho các đơn vị có chức năng chuyển giao công nghệ để nâng cao việc ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Tăng cường mối liên kết giữa các cơ quan khoa học, cơ quan khuyến nông lâm với các cơ quan truyền thông; Cung cấp thông tin, in ấn tài liệu kỹ thuật cấp phát cho nông dân và đưa tin trên bảng tin là một công cụ có tác động rất lớn đến nhận thức của người dân; Phát hành ấn phẩm sách kỹ thuật để hướng dẫn.

4.3.5. Phát triển thị trường khoa học công nghệ

Xây dựng cơ chế gắn kết hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống. Tạo lập thị trường cho hoạt động khoa học, gắn lợi ích hoạt động nghiên cứu triển khai, sản xuất thử nghiệm với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng vùng. Thực thi có hiệu quả các chính sách đối với các vùng khó khăn khi áp dụng chuyển giao, đổi mới công nghệ.

Cơ chế để doanh nghiệp kinh doanh chế biến liên kết bền vững với hộ chủ rừng trong việc cung cấp nguyên liệu gỗ rừng trồng hợp pháp.

Nâng cao ý thức xây dựng hệ thống trách nhiệm giải trình nguồn gốc gỗ trong chuỗi cung ứng, đưa ngành chế biến gỗ trở thành ngành sản xuất bền vững bằng nguyên liệu gỗ hợp pháp.

4.3.6. Phát triển ứng dụng khoa học công nghệ trọng điểm Ngành Lâm nghiệp

Thực hiện có hiệu quả một số nhiệm vụ khoa học công nghệ của Ngành Lâm nghiệp tại Quyết định số 5171/QĐ-BNN-KHCN, Ban hành kế hoạch nghiên cứu và chuyển giao công nghệ phục vụ cơ cấu lại Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2018-2025 như:[4]

Chọn tạo giống cây lâm nghiệp nhập nội và bản địa chủ lực làm gỗ lớn; cây lâm sản ngoài gỗ có năng suất, chất lượng, lợi thế cạnh tranh: Keo, Bạch đàn, Thông, Mỡ, Sa mộc, Vối thuốc, Dầu rái, Sao đen, Huỷnh…).

Quy trình trồng rừng thâm canh cây lâm sản ngoài gỗ đạt hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với từng vùng trồng rừng trọng điểm: Mây nếp, Song mật, Luồng, Lùng, Quế, Hồi, Sa nhân, Thảo quả, Sâm Ngọc linh,.... đạt hiệu quả kinh tế tăng tối thiểu 15%.

Quản lý công tác giống: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn về lợi ích của việc sử dụng giống có nguồn gốc rõ ràng, giống có chất lượng để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng; khuyến khích sử dụng cây giống vô tính chất lượng cao (mô, hom) và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh trong trồng rừng sản xuất. Hướng dẫn cho những cơ sở, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu sản xuất kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp phải bảo đảm các điều kiện theo quy định. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc sản xuất kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn; chú trọng kiểm tra tại các vườn ươm của hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ; kiểm soát chặt việc vận chuyển, lưu thông giống trên thị trường.

Giải pháp công nghệ cao phục vụ theo dõi, giám sát diễn biến tài nguyên, môi trường rừng, quản lý rừng bền vững thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu.

Đổi mới mô hình tổ chức sản xuất lâm nghiệp đáp ứng yêu cầu thị trường và hội nhập.

Thiết bị hoặc hệ thống thiết bị trong làm đất, chăm sóc rừng, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ có giá thành thấp hơn 10% so với thiết bị nhập ngoại với thông số kỹ thuật tương đương.

Quy trình công nghệ, thiết kế chế tạo thiết bị, nguyên liệu phụ trợ tiên tiến trong khai thác, bảo quản, chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu;, đẩy mạnh chế biến sau dăm;

Quy trình công nghệ phù hợp sản xuất nguyên liệu phụ trợ trong nước (keo dán, chất phủ, chất bảo quản...) đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng yêu cầu của ngành chế biến gỗ, hạ giá thành ít nhất 10% và thay thế nhập khẩu.

Ban hành bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững để cấp chứng chỉ của Việt Nam, phổ biến ứng dụng rộng rãi cho các doanh nghiệp.

Phát triển nhân rộng các mô hình chuỗi liên kết giữa các doanh nghiệp chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các chủ rừng. Phát triển các mô hình quản lý và phát triển rừng có hiệu quả, gắn với cơ chế quản lý tài chính bền vững (bảo vệ rừng, phát triển rừng gắn với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí, thuê dịch vụ môi trường rừng...).

Phát triển các mô hình sinh kế của đồng bào các dân tộc thiểu số gắn liền với rừng để người dân có thể coi bảo vệ và phát triển rừng là một trong những trụ cột phát triển bền vững. Đây là cơ sở cho việc xây dựng đổi mới hoàn thiện chính sách theo hướng bền vững ổn định đời sống, nâng cao thu nhập cho các cộng đồng dân tộc thiểu số trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng và đất nước nói chung.

Đẩy mạnh mở rộng chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở phát thải khí nhà kính, sử dụng nước cho công nghiệp, sử dụng môi trường rừng để kinh doanh du lịch; Hỗ trợ quá trình xây dựng cơ chế tài chính bền vững cho các vườn quốc gia, khu bảo tồn và các ban quản lý rừng phòng hộ trong cả nước.

4.3.7. Tập trung chỉ đạo và đẩy mạnh tăng cường hợp tác quốc tế

Xây dựng các nhiệm vụ KH&CN có sự tham gia nghiên cứu của chuyên gia quốc tế từ các tổ chức KH&CN tiên tiến trên thế giới để nâng cao hàm lượng khoa học cho các đề tài dự án.

Xây dựng và xúc tiến các dự án quốc tế lớn trong lâm nghiệp để phát triển nguồn nhân lực và tăng cường cơ sở vật chất.

Tập trung đào tạo nguồn nhận lực, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao nhân giống và công nghệ sinh học, công nhệ tế bào, công nghệ viễn thám, công nghệ chế biến gỗ, điều khiển số - thúc đẩy hợp tác công tư, xây dựng một số dự án hợp tác công tư trên một số đối tượng chủ lực, công nghệ mới mà Việt Nam chưa tạo ra hoặc chưa làm chủ được công nghệ.

Nghiên cứu đề xuất chính sách khuyến khích nhập khẩu, chuyển nhượng bản quyền công nghệ, giống, thiết bị tiên tiến sản xuất lâm nghiệp mà trong nước chưa sản xuất được./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2018), Kỷ yếu Hội thảo tổng kết ngành Lâm nghiệp, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn;

2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2018), Kỷ yếu Hội thảo Giải pháp thúc đẩy nghiên cứu chuyển giao công nghệ và khuyến nông phục vụ tái cơ cấu ngành Nông nghiệp.

3. Nguyễn Bá Ngãi (2013), Tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp để phục vụ phát triển Lâm nghiệp bền vững.

4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Quyết định số 5171/QĐ-BNN-KHCN, Ban hành kế hoạch nghiên cứu và chuyển giao công nghệ phục vụ cơ cấu lại ngành Nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2018-2025.

5. Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng quan ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu, Tài liệu phục vụ Hội nghị "Định hướng, giải pháp phát triển nhanh, bền vững ngành chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu".