Mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế cấp chiến lược với phát triển kinh tế

Mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế cấp chiến lược với phát triển kinh tế

 

          ThS. Đậu Văn Côi, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ, Ban Kinh tế Trung ương

 

Trong thời đại kinh tế thị trường hiện đại phát triển, nguồn lực con người (human resource) ngày càng được chứng minh là nguồn lực quan trọng quyết định trong phát triển kinh tế. Vai trò then chốt của lãnh đạo, quản lý nói chung và lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược trong phát triển kinh tế cũng được chứng minh cả trong lý thuyết và thực tiễn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: "Cán bộ giỏi, bộ máy trơn tru thì kinh tế phát triển tốt, môi trường đầu tư tốt"[1]. Tiếp cận hiệu quả công tác cán bộ từ góc độ kinh tế học, ông Phạm Minh Chính (2018) cho rằng: "đầu tư cho cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững"[2]. Bài viết này chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng đội ngũ LĐQLKTCL với phát triển kinh tế trên 3 phương diện: lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế; nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để xây dựng, ban hành thể chế, chính sách kinh tế và xây dựng, phát triển các mối quan hệ đối tác kinh tế chiến lược, nâng cao uy tín thương hiệu quốc gia và lợi thế cạnh tranh toàn cầu. Vai trò đó được thể hiện ngày càng rõ nét trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế với nền kinh tế tri thức gắn với cuộc cách mạng công nghệ 4.0. 

1. Vai trò lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược trong phát triển kinh tế - các lý thuyết hiện đại

Năm 1928, Cobb và Douglas đã đưa ra lý thuyết tăng trưởng kinh tế với hàm sản xuất Cobb-Douglas (Cobb-Douglas Production Function), theo đó, các nhân tố lao động, trình độ khoa học và khả năng quản lý là các nhân tố quan trọng cấu thành tăng trưởng kinh tế. Mô hình tăng trưởng Lucas công bố năm 1988 (The Lucas Growth Model, 1988) cũng đưa thành tố vốn con người (human capital) là nhân tố quan trọng cấu thành hiệu quả lao động[3].  Như vậy, các lý thuyết Cobb-Douglas và Lucas đều đưa nguồn vốn con người, trong đó có hiệu quả quản lý trở thành một yếu tố quan trọng của hiệu quả sản xuất và tăng trưởng kinh tế.

Các lý thuyết về phát triển kinh tế - xã hội khác đều nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, quản lý đối với phát triển kinh tế. Kotter (1982) cho rằng: "Ngày nay, con người trong các nước phát triển phụ thuộc chủ yếu vào nhà quản lý"[4]. Maxwell (2014) viết: "Mọi sự thành bại đều do lãnh đạo"[5].

Mô hình nguồn lực chiến lược (Strategic Resource Model) của Petrick và cộng sự (1999) đã chứng minh năng lực, kỹ năng lãnh đạo, quản lý kinh tế cấp chiến lược của người lãnh đạo, quản lý là nguồn lực chủ chốt vô hình (key intangible resource), trong đó có nguồn vốn uy tín (reputational capital) tạo nên khả năng đặc biệt cốt lõi và là chìa khóa cho lợi thế cạnh tranh bền vững thế kỷ 21 (Hình 1).

 

Nguồn: Joseph A. Pettrick, Robert F. Scherer, James D. Brodzinski, John F. Quinn, và M. Fall Ainina. Global leadership skills and reputational capital: Intangible resources for sustainable competitive advantage, Academy of management perspectives, Vol. 13, No. 1 article https://journals.aom.org/doi/full/10.5465/ame.1999.1567322.

 

Mô hình trên cho thấy, lợi thế cạnh tranh bền vững toàn cầu được cấu thành từ năng lực khác biệt cốt lõi với hai nhân tố gắn kết nhau là khả năng lãnh đạo, quản lý và uy tín, danh tiếng, là hai loại tài sản vô hình, là những nguồn lực trọng yếu cho phát triển bền vững. Trong đó, nguồn vốn danh tiếng là yếu tố quan trọng của nguồn vốn xã hội (social capital), củng cố vững chắc độ tín nhiệm, sự tin cậy và trách nhiệm của tổ chức hoặc toàn ngành trên phạm vi toàn cầu. Để thể hiện hình ảnh của danh tiếng, nhà LĐQLKTCL phải xác định năng lực thực hành lãnh đạo toàn cầu để nâng cao danh tiếng trong con mắt mọi người. Những nhà lãnh đạo chiến lược toàn cầu thành công, giành được danh tiếng với sự tin cậy của người lao động thông qua thực hành quản lý gương mẫu. Họ xây dựng danh tiếng cho sự tin cậy thông qua các nhà đầu tư, thông qua xây dựng sự tin cậy khách hàng và các nhà cung cấp bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ và đổi mới; trách nhiệm với cộng đồng và khách hàng công cộng bằng sự chu đáo, thận trọng trong quản lý tổ chức, xã hội và di sản thiên nhiên; bằng trách nhiệm liên quan đến chính quyền và lợi nhuận cạnh tranh, bằng chấp hành nguyên tắc và xây dựng một sân chơi công bằng cho cạnh tranh lành mạnh. Uy tín cá nhân hay của nhóm nhà lãnh đạo toàn cầu được xây dựng, củng cố thông qua duy trì lợi nhuận, sự tận tâm, quan tâm và truyền cảm hứng cho mọi người.

Brady và Spence (2009), từ phân tích sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững ở 13 quốc gia châu Á đã khẳng định vai trò của lãnh đạo trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, thể hiện ở (1) Lựa chọn mô hình tăng trưởng và phát triển và quyết định chính sách tương ứng thực hiện mô hình đó (2) Tăng cường các thể chế và điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng và phát triển kinh tế, duy trì và củng cố các thể chế đó ngày càng tồn tại vững chắc, phát huy mạnh mẽ (3) Có các quan điểm chính trị đề cao tăng trưởng bền vững theo cách giải quyết tốt các vấn đề do tăng trưởng gây ra, như vấn đề bất bình đẳng, phát triển không đều. Những điều đó chứng minh rõ vai trò của lãnh đạo trong việc tạo nên tăng trưởng bền vững[6]. Milbourn (2003) chứng minh mối quan hệ giữa uy tín, danh tiếng của lãnh đạo điều hành cao cấp (CEO - Chief Executive Officer) với giá cổ phiếu chứng khoán. Theo đó, khi uy tín của CEO một doanh nghiệp cao thì giá cổ phiếu cũng tăng và ngược lại, như vậy, uy tín của CEO chính là một nguồn lực tăng trưởng[7]. Cole (2012) đã nghiên cứu tác động của nhân tố uy tín lên giá trị thị trường và cho rằng chất lượng quản lý, khả năng thu hút nhân tài và con người quản lý, lãnh đạo là ba trong các yếu tố hàng đầu quyết định giá trị thị trường của mỗi công ty[8].

Bên cạnh các lý thuyết về nguồn vốn nhân lực, khả năng lãnh đạo, quản lý gắn với uy tín, danh tiếng, nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh vai trò quan trọng của thể chế (institutions) đối với phát triển kinh tế, gắn với năng lực, phẩm chất đội ngũ LĐQLKTCL. Acemoglu cùng cộng sự (2005) đã chứng minh thể chế là nguyên nhân cơ bản của tăng trưởng kinh tế dài hạn[9], trong đó, thể chế kinh tế tạo nên kết quả phát triển kinh tế và được xác định bởi quyền lực chính trị và thể chế chính trị. Acemoglu và Robinson (2012) đã phân tích các yếu tố cơ bản liên quan đến thịnh vượng và đói nghèo trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại cho đến ngày nay trên bình diện toàn cầu và kết luận: thể chế chính là yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia"[10]. Từ đó, các tác giả lý giải thể chế như một yếu tố quyết định thất bại hoặc thành công đối với phát triển kinh tế ở một vùng hoặc đất nước. North (1991) xác định: thể chế nói chung là các mối ràng buộc từ di sản loài người để lại bao gồm cấu trúc chính trị, kinh tế và mối quan hệ tương tác xã hội. Có mối ràng buộc không chính thức như truyền thống, phong tục tập quán, đạo đức..., có mối quan hệ chính thức như hiến pháp, pháp luật, quyền sở hữu tài sản[11]. Đối với một nền kinh tế, thể chế có tác động mạnh mẽ đến uy tín thương hiệu quốc gia, niềm tin đối tác, xuất, nhập khẩu; từ hiệu quả nền kinh tế nói chung đến giá cả, lợi nhuận, sự thuận lợi từng hợp đồng kinh tế cụ thể của các công ty...và có quan hệ chặt chẽ đến tăng trưởng kinh tế. Tiếp cận từ nguồn vốn thể chế (institutional capital), Platje (2008) đã kết luận: nguồn vốn thể chế là cơ sở nền tảng của phát triển bền vững và ngược lại, để thiếu nguồn vốn này là nguyên nhân dẫn đến phát triển thiếu bền vững[12]. Trong khi đó, chất lượng thể chế kinh tế phụ thuộc chặt chẽ vào phẩm chất, năng lực của đội ngũ LĐQLKTCL vì đội ngũ này có vai trò hết sức quan trọng trong đề xuất và đặc biệt là thông qua, ban hành thể chế, chính sách kinh tế để thực hiện.   

Tiếp cận từ vai trò của đối tác trong phát triển kinh tế, Lý Quang Diệu từng nhận xét: từ đầu những năm 50 của thế kỷ 20, Peter Drucker đã dự đoán chính xác thay đổi lớn nhất trong cách tiến hành kinh doanh trong thế kỷ 21 "sẽ là sự gia tăng nhanh chóng các mối quan hệ không dựa vào sở hữu mà dựa vào quan hệ đối tác"[13]. Ông cũng đưa ra tư tưởng cho rằng: con người, với tư cách chủ các đầu mối quan hệ đối tác là nguồn vốn quý nhất của doanh nghiệp, tổ chức và nguồn vốn đó phải được quý trọng, định giá và phát triển như tài sản hàng đầu của doanh nghiệp.

Như vậy, trong khi các trường phái quản lý kinh tế truyền thống coi trọng tài sản hữu hình (tangible assets) thì các trường phái kinh tế hiện đại ngày càng nhấn mạnh tầm quan trọng của tài sản vô hình (intangible assets). Loại tài sản này mặc dù không trực tiếp nhìn thấy và khó lượng hóa, đong đếm được nhưng thực tế vai trò và giá trị của nó đang tăng lên rất nhanh chóng trong cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế, đồng thời, gắn chặt với vai trò của LĐQLKTCL.

2. Vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế cấp chiến lược đối với phát triển kinh tế trong thực tiễn

Thực tế chứng minh sự phát triển kinh tế của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ LĐQLKTCL, những người xây dựng, ban hành, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách và đóng vai trò quan trọng trong xây dựng, củng cố các đối tác chiến lược kinh tế, tạo dựng hình ảnh, uy tín danh tiếng cho thương hiệu quốc gia. Chính vì vậy, đội ngũ LĐQLKTCL là nhân tố then chốt của nguồn vốn con người (human capital) và có tác động quan trọng vào quá trình tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững.

Từ hệ thống chính trị và hệ thống quản lý nhà nước Việt Nam gần đây cho thấy: muốn nghiên cứu toàn diện, thực chất về các nguồn lực phát triển kinh tế Việt Nam phải có hướng tiếp cận mới là nghiên cứu toàn diện đội ngũ LĐQLKTCL trong hệ thống chính trị, bao gồm lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo các doanh nghiệp lớn, cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp thành phần khác. Thực tế, với quan điểm Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối về mọi mặt, trong đó phát triển kinh tế là trung tâm, các cán bộ cấp chiến lược trên lĩnh vực kinh tế của Đảng ngày càng có vai trò quan trọng và tác động rất sâu sắc đến quản lý nguồn lực, nhân lực, phát triển kinh tế. Điều đó thể hiện trực tiếp trong quyền ban hành các chủ trương, chính sách về kinh tế, quản lý, phân bổ nguồn lực kinh tế và chỉ đạo thực hiện trên thực tiễn về tổ chức thực hiện các dự án, chương trình kinh tế cụ thể.

Vai trò của LĐQLKTCL đối với phát triển kinh tế trước hết thể hiện ở việc ra các quyết định kinh tế chiến lược và tổ chức thực hiện thành công trên thực tế, gây tác động, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế vỹ mô trong dài hạn.

Về tác động tích cực, thực tế ghi nhận Dự án đường dây 500 KV Bắc - Nam được Bộ Chính trị và Chính phủ phê duyệt năm 1992, triển khai xây dựng và đóng diện năm 1994. Công trình này đã điều hòa điện miền Bắc - miền Nam và thống nhất lưới điện cả nước, đưa lại lợi ích rất lớn về phát triển kinh tế trong những năm đầu đổi mới và cả chiến lược phát triển dài hạn của kinh tế Việt Nam. Qua thời gian kiểm nghiệm chứng minh đây là quyết định lịch sử, táo bạo và chính xác của đội ngũ LĐQLKTCL lúc bấy giờ, nhất là người đứng đầu Chính phủ và bộ máy tham mưu chiến lược của ngành công nghiệp điện. Sau đó, việc quyết định mở cửa và hội nhập kinh tế thế giới với các quyết sách chiến lược như ký kết các hiệp định thương mại đa phương với các nước khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1993 và các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc; Hiệp định thương mại Việt - Mỹ năm 2000 và các hiệp định thương mại song phương, đa phương khác đã đưa Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới, tăng năng lực cạnh tranh quốc gia và tăng tổng sản lượng nội địa của nền kinh tế (GDP) lên quy mô hơn 240 tỷ USD năm 2018.

Về tác động tiêu cực, các quyết sách được nghi nhận ở Việt Nam khá nhiều. Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu  2008 - 2009, khi lạm phát cả năm của Việt Nam tăng cao (25%) Chính phủ đã thông qua gói kích cầu giá trị tổng cộng tương đương 8 tỷ USD. Qua 2 đến 3 năm thực hiện gói kích cầu, kinh tế Việt Nam vẫn không khởi sắc và các chỉ số kinh tế vĩ mô vẫn bất ổn, khó khăn. Năm 2006, Chính phủ đã thành lập Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) và tập đoàn này đã nhận được sự quan tâm, đầu tư lớn của Đảng và Nhà nước. Về vốn, Vinashin được Chính phủ dành nguồn vốn 750 triệu USD trái phiếu phát hành ở nước ngoài, 3000 tỷ VNĐ trái phiếu trong nước[14] và nhiều ưu đãi khác trong chính sách đất đai, thuế, thể chế chính sách liên quan. Sau gần 5 năm hoạt động, nhiều dự án của các công ty thuộc Tập đoàn đã thua lỗ và thất thoát, lãng phí và tham nhũng nghiêm trọng. Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, vào thời điểm tháng 11/2010, số nợ phải trả của Vinashin là 86.700 tỷ đồng, tương đương hơn 4,3  tỷ USD[15], chưa kể lãi lũy kế và không có khả năng trả nợ. Đây là thất bại nghiêm trọng, tác động xấu và lâu dài tới kinh tế vĩ mô, nhất là tăng nợ công của Việt Nam trong thời gian dài. Xét kinh tế ngành, 12 dự án do Bộ Công Thương đã phê duyệt thực hiện sau mấy năm triển khai đã bị thua lỗ, lãng phí tổng cộng hàng chục nghìn tỷ đồng, gây thất thoát nguồn lực nền kinh tế và tác động xấu đến kinh tế vĩ mô trong thời gian dài. Sai phạm trong việc Tổng Công ty Viễn thông Mobifone mua 95% cổ phần của Công ty cổ phần nghe nhìn Toàn Cầu (AVG) cũng nằm trong tình trạng trên. Xét kinh tế địa phương, vào năm 2016, Công ty trách nhiệm hữu hạn Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã gây ra sự cố môi trường biển, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế, để lại hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về nhiều phương diện. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, đầu tàu kinh tế đất nước cũng có các vi phạm trong công tác lãnh đạo, quản lý kinh tế, nhất là quản lý đất đai và các dự án lớn ở Thủ Thiêm và Nhà Bè. Tại Đà Nẵng, là địa phương có nhiều vi phạm trong quản lý kinh tế, dẫn đến một số LĐQLKTCL bị điều tra, kỷ luật và truy tố trước pháp luật. Ở cấp độ tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nước, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam trong thời gian khoảng từ 2008 - 2017 đã có nhiều vi phạm về lãnh đạo, quản lý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Nhiều dự án lớn, nhiều vụ việc vi phạm đã bị các cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, kết luận và xử lý kỷ luật, truy tố, xét xử đối với LĐQLKTCL. Từ giữa năm 2015 đến cuối năm 2017 đã có hàng chục cán bộ cấp cao của tập đoàn này cũng như lãnh đạo các công ty con, lần lượt bị truy tố, xét xử. Đặc biệt, cả bốn người từng là Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn, thuộc đối tượng LĐQLKTCL đã bị khởi tố, xét xử. Những sai phạm, yếu kém về việc ra quyết sách và lãnh đạo, quản lý kinh tế nêu trên có trách nhiệm lớn của LĐQLCLKT. Đồng thời, phản ánh phẩm chất, năng lực của LĐQLKTCL, nhất là trình độ lãnh đạo, quản lý kinh tế trong thời đại khoa học công nghệ, KTTT và hội nhập quốc tế còn yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Tham nhũng của lãnh đạo cao cấp là vấn đề nổi cộm, tác động nặng nề đến phát triển kinh tế mỗi quốc gia. Theo Báo cáo tham nhũng toàn cầu của tổ chức Minh bạch Quốc tế (2004), Mohammad Shuharto, Tổng thống Indonesia từ năm 1967 đến năm 1998 đã biển thủ các quỹ từ 15 tỷ đến 35 tỷ USD; Ferdinand Marcos, Tổng thống Philippin từ 1972 đến 1986, 5 tỷ đến 10 tỷ USD và Joseph Estrada, Tổng thống Philippin từ từ 1998 đến 2001, từ 78 triệu đến 80 triệu USD[16]. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế của Indonesia và Philippin trong nhiều năm liền không thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và không "cất cánh" được như Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore. Ở Việt Nam, trong những năm qua, nạn tham nhũng, lãng phí ngày càng trầm trọng, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, trong đó có trách nhiệm của LĐQLKTCL. Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng (2006 - 2016) của Tổng thanh tra chính phủ (2016), cho biết, trong 10 năm đã phát hiện tổng giá trị sai phạm 96.890 tỷ đồng, 7.028.236 USD, 24.980 ha đất[17]. Con số tham nhũng, thất thoát, lãng phí cũng rất lớn, lên đến hàng trăm tỷ đồng với các vụ điển hình ở Tập đoàn Vinashin, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinaline), Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, 12 dự án ở Bộ Công thương, vụ Tổng công ty Viễn thông MobiFone v.v.. Đối với một nền kinh tế có quy mô nhỏ như Việt Nam, số tiền tham nhũng, thất thoát, lãng phí trên là rất lớn và có tác động tiêu cực đến sự phát triển rất nặng nề, làm suy giảm sự phát triển kinh tế của cả quốc gia. Đồng thời, nguy hiểm hơn là làm mất lòng tin với đối tác kinh tế, nản lòng các nhà đầu tư, ảnh hưởng xấu đến thương hiệu, uy tín quốc gia, làm giảm sút lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế trên thị trường quốc tế.

Theo kinh nghiệm các nước phát triển, việc xây dựng một đội ngũ LĐQLKTCL đạt tiêu chuẩn cao về đạo đức công vụ, năng lực lãnh đạo, quản lý, phong cách làm việc chuyên nghiệp, trong sạch, minh bạch, không tham nhũng sẽ là yếu tố quan trọng hàng đầu cho phát triển bền vững và thịnh vượng của quốc gia. 

Việt Nam, sau 30 năm đổi mới đất nước đã giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, nhất là về kinh tế. Nền KTTT định hướng XHCN đã phát triển khá đồng bộ, hội nhập ngày càng sâu với kinh tế thế giới với nhiều hình thức, theo lộ trình từ thấp tới cao, hướng tới tiếp thu những nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế của nền kinh tế và thị trường toàn cầu. Năm 2018, kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng đạt 7,08%, xuất khẩu đạt 244,7 tỷ USD, nhập khẩu đạt 237 tỷ USD, xuất siêu đạt 7,7 tỷ USD; GDP đạt gần 240 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 2.580 USD/người[18]. Những kết quả đạt được nêu trên có sự đóng góp quan trọng của công tác lãnh đạo, quản lý, nhất là của đội ngũ LĐQLKTCL. 

Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém với hiệu quả còn thấp, chưa đồng bộ vì nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng nhất là thiếu hụt một đội ngũ LĐQLKTCL đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong tình hình mới. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đất nước trong tình hình hội nhập, việc tập trung xây dựng một đội ngũ LĐQLKTCL chuyên nghiệp, đủ năng lực, phẩm chất, trình độ và khả năng, kỹ năng lãnh đạo, quản lý kinh tế trong tình hình mới là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là nhiệm vụ đặc biệt hệ trọng, đòi hỏi phải thực hiện thường xuyên, đồng bộ các giải pháp với sự tận tâm, khách quan của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, trách nhiệm, trước hết là BCHTW, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trong đó, giải pháp lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bao gồm tự đào tạo, bồi dưỡng là cơ bản nhất, vì "đào tạo là con đường cơ bản để tạo ra chất lượng cán bộ"[19].

Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ, gần đây, đội ngũ cán bộ cấp chiến lược nói chung và LĐQLKTCL ngày càng được quan tâm xây dựng theo hướng tiêu chuẩn hóa với các tiêu chí cụ thể. Nghị quyết hội nghị BCHTW lần thứ 7 đề ra mục tiêu tổng quát: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, trong đó, có từ 40 - 50% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế[20]. Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 90-QĐ/TW, ngày 04/8/2017 về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện BCHTW, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí chung, cơ bản cho các chức danh cụ thể. Đây là những văn bản quan trọng, làm cơ sở để đánh giá, quy hoạch và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược nói chung trên các lĩnh vực. Tuy nhiên, để thực hiện thành công chủ trương trên, việc tập trung xây dựng đội ngũ LĐQLKTCL của Việt Nam trong hội nhập quốc tế là điều quan trọng then chốt nhất.

3. Khuyến nghị

Thực hiện mục tiêu chiến lược nêu trên, ngoài các giải pháp Đảng, Nhà nước Việt Nam đã đề ra trong các chủ trương, nghị quyết, quy định đã ban hành, cần nhấn mạnh một số nội dung sau: 

1. Cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh đội ngũ cán bộ LĐQLKTCL là nguồn nhân lực đặc biệt, là nguồn vốn uy tín để phát triển kinh tế bền vững. Vì vậy, muốn giải quyết bài toán chiến lược phát triển kinh tế bền vững, chúng ta phải đầu tư vào phát triển đội ngũ LĐQLKTCL một cách bài bản, đảm bảo phẩm chất, trình độ, năng lực và phong cách chuyên nghiệp, ngang tầm quốc tế để lãnh đạo, quản lý nền kinh tế đất nước thành công trong thời kỳ hội nhập.

2. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế từ nay đến năm 2030 và những năm tiếp theo, phải nhấn mạnh phát triển các phẩm chất, tiêu chuẩn năng lực cốt lõi của đội ngũ LĐQLKTCL Việt Nam là: (1) Có đạo đức cao, liêm chính, minh bạch, thượng tôn pháp luật (2) Năng lực làm chủ kiến thức da dạng, cập nhật, nhất là chuyên môn, luật pháp, thể chế, chính sách, quy định cả trong nước và thế giới phục vụ nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý được giao (3) Nâng cao hơn nữa năng lực đổi mới trong lãnh đạo, quản lý để thực hiện thành công bước chuyển đổi, hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với kinh tế thế giới (4) Có tầm nhìn xa, tư duy chiến lược toàn cầu, năng lực cạnh tranh cao trong xây dựng thể chế, chính sách kinh tế (5) Có kỹ năng, phong cách lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu thời đại kinh tế tri thức gắn với nền kinh tế số hóa (6) Có năng lực, kỹ năng điều hành chính phủ điện tử thành thạo (7) Đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế tự tin, hiệu quả.  

3. Một trong những giải pháp then chốt để phát triển đội ngũ LĐQLKTCL ngang tầm nhiệm vụ là lựa chọn đúng tài năng lãnh đạo, quản lý kinh tế, có lộ trình đào tạo, bồi dưỡng đồng bộ theo đúng tiêu chuẩn, tiêu chí đề ra. Trong đó, kết hợp chặt chẽ đào tạo kiến thức lý thuyết và thực tế, trong nước và ngoài nước với trải nghiệm đủ môi trường làm việc quốc tế theo trình độ, phong cách của nhà lãnh đạo, quản lý kinh tế toàn cầu là giải pháp then chốt./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu tiếng Việt

1. Acemoglu,D. và Robinson, J.A., Tại sao các quốc gia thất bại?, nxb. Trẻ 2013, Biên dịch: Trần Thị Kim Chi. 

2. Allison G., Blackwill R.D., Wyne A., Lee Kuan Yew: The grand  master's  insights  on China, the United States, and the world (Lý Quang Diệu bàn về Trung quốc, Hoa Kỳ  và thế giới), Bản dịch của Nguyễn Xuân Hồng, tái bản lần thứ tư, Nxb.Thế giới 2015.

3. Đinh Văn Ân, Kinh tế Việt Nam năm 2001 – 2005 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006 – 2010, www.ciem.org.vn

4. Phạm Minh Chính, Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ, Báo Điện tử của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), http//vov.vn, 27/05/2018, xem 28/5/2018.

5. Đỗ Văn Đức, Xác định nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, Tạp chí ngân hàng số 18, 31/10/2016, The State Bank of Viet Nam (VN) http//www.

6. Gill, I., Kharas, H. cùng cộng sự, Đông Á phục hưng ý tưởng phát triển kinh tế, Nxb. Văn hóa thông tin 2007 (Người dịch; Triệu Thành Nam)

7. Maxwell, J.,C.,  Developing the Leader within You (Phát triển kỹ năng lãnh đạo), bản dịch Đinh Việt Hòa, Nguyễn Thị Kim Oanh, Nhà xuất bản Lao động xã hội 2014.

8. Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm, Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,  Nxb. Chính trị quốc gia, 2001.

9. Nguyễn Phú Trọng,  Phát biểu tại buổi làm việc với tỉnh ủy Đồng Tháp ngày 14/4/2018,  http://baochinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid=334127, xem 09/10/2018.

10. Báo cáo các kỳ họp Quốc Hội.

11. Đại biểu Nhân dân, Phát hành 3000 tỷ  đồng trái phiếu cho Vinashin,  14/11/2009, Online,   http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=86&catId=302&startId=89569, xem 31/12/2018.

12. Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng (2006 - 2016) của Tổng thanh tra chính phủ (2016) tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ, tháng 6/2016.

13. Thực lỗ của Vinashin gấp 3 lần báo cáo, Vneconomy, http://vneconomy.vn/doanh-nhan/thuc-lo-cua-vinashin-gap-3-lan-bao-cao-20110603044755359.htm ngày 03/6/2011, xem 30/12/2018.

14. Tổng cục Thống kê, Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2018, https://www.gso.gov.vn/, xem 18/2/2019.

15. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018).

2. Tài liệu tiếng Anh

1. Acemoglu, D., Johnson, S., Robinson, J.A., Institutions as a fundamental cause of long-run growth, Handbook of Economic Gmwth, Volume IA. Edited by Philippe Aghion and Steven N. Durlauf 2005, https://economics.mit.edu/files/4469.

2. Brady, D. and Spence, M., Leadership and Politics: A Perspective from the Commission on Growth and Development, Oxford Review of Economic Policy 25(2): 1–14.

4. Kotter, J., The general managers, , Havard Business School, The Free Press 1982.

5. Cole, S., World Economics, Vol. 13, No. 3, July–September 2012, 47-68.

6. North, D.C., Institutions, The Journal of Economic Perspectives, Vol. 5, No. 1. (Winter, 1991), pp. 97-112, http://links.jstor.org.

7. Platje, J., An institutional capital approach to sustainable development, Management of Environmental Quality: An International Journal, Vol. 19 Issue: 2, pp.222-233, https://doi.sorg/10.1108/14777830810856609.

8. Milbourn, T.T., CEO reputation and stock-based compensation, Journal of Financial Economics 68 (2003) 233–262. 

[1]Nguyễn Phú Trọng,  Phát biểu tại buổi làm việc với tỉnh ủy Đồng Tháp ngày 14/4/2018,  http://baochinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid=334127, xem 09/10/2018.

[2] Phạm Minh Chính, Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ, Báo Điện tử của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), http//vov.vn, 27/05/2018, xem 28/5/2018.

[3] Đỗ Văn Đức, Xác định nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, Tạp chí ngân hàng số 18, 31/10/2016, The State Bank of Viet Nam (VN) http//www.

[4] Kotter, J., The general managers, , Havard Business School, The Free Press 1982, Tr.1.

[5] Maxwell, J.,C.,  Developing the Leader within You (Phát triển kỹ năng lãnh đạo), bản dịch Đinh Việt Hòa, Nguyễn Thị Kim Oanh, Nhà xuất bản Lao động xã hội 2014, Tr. 12.

[6] Brady, D. and Spence, M., Leadership and Politics: A Perspective from the Commission on Growth and Development, Oxford Review of Economic Policy 25(2): 1–14.

[7] Milbourn, T.T., CEO reputation and stock-based compensation, Journal of Financial Economics 68 (2003) 233–262.

[8] Cole, S., World Economics, Vol. 13, No. 3, July–September 2012, 47-68.

[9] Acemoglu, D., Johnson, S., Robinson, J.A., Institutions as a fundamental cause of long-run growth, Handbook of Economic Gmwth, Volume IA. Edited by Philippe Aghion and Steven N. Durlauf 2005, https://economics.mit.edu/files/4469.

[10] Acemoglu,D. và Robinson, J.A., Tại sao các quốc gia thất bại?, nxb. Trẻ 2013, Biên dịch: Trần Thị Kim Chi, Tr. 481. 

[11] North, D.C., Institutions, The Journal of Economic Perspectives, Vol. 5, No. 1. (Winter, 1991), pp. 97-112, http://links.jstor.org.

[12] Platje, J., An institutional capital approach to sustainable development, Management of Environmental Quality: An International Journal, Vol. 19 Issue: 2, pp.222-233, https://doi.sorg/10.1108/14777830810856609.

[13] Dẫn theo Allison G., Blackwill R.D., Wyne A., Lee Kuan Yew: The grand  master's  insights  on China, the United States, and the world (Lý Quang Diệu bàn về Trung quốc, Hoa Kỳ  và thế giới), Bản dịch của Nguyễn Xuân Hồng, tái bản lần thứ tư, Nxb.Thế giới 2015, Tr. 115.

[14] Đại biểu Nhân dân, Phát hành 3000 tỷ  đồng trái phiếu cho Vinashin,  14/11/2009, Online,   http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=86&catId=302&startId=89569, xem 31/12/2018.

[15] Thực lỗ của Vinashin gấp 3 lần báo cáo, Vneconomy, http://vneconomy.vn/doanh-nhan/thuc-lo-cua-vinashin-gap-3-lan-bao-cao-20110603044755359.htm ngày 03/6/2011, xem 30/12/2018.

[16] Nguồn: Gill, I., Kharas, H. cùng cộng sự, Đông Á phục hưng ý tưởng phát triển kinh tế, Nxb. Văn hóa thông tin 2007 (Người dịch; Triệu Thành Nam), tr. 382.

[17] Nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng (2006 - 2016) của Tổng thanh tra chính phủ (2016) tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ, tháng 6/2016.

[18] Tổng cục Thống kê, Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2018, https://www.gso.gov.vn/, xem 18/2/2019.

[19] Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm, Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,  Nxb. Chính trị quốc gia, 2001, Tr. 327.

[20] Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018).