Liệu các quốc gia Bắc Âu có được coi là hình mẫu của chủ nghĩa xã hội?

Giới thiệu:

Các quốc gia Bắc Âu, với thu nhập cao, bất bình đẳng thấp, chính trị tự do và luật pháp mạnh mẽ, đại diện cho mô hình phát triển phúc lợi xã hội thành công, tuy nhiên điều này có liên quan gì đến chủ nghĩa xã hội hay không, lại là một câu hỏi khác. Và câu trả lời, theo một báo cáo mới đay từ các nhà phân tích tại JPMorgan Chase, là không nhiều.

Phân tích mô hình phát triển phúc lợi xã hội tại các nước Bắc Âu:

Dựa trên dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và các nguồn có uy tín khác, báo cáo của JPMorgan Chase cho thấy năm quốc gia - Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Hà Lan - bảo vệ quyền sở hữu mạnh mẽ hơn; thực hiện kiểm soát ít hơn đối với doanh nghiệp tư nhân; cho phép tập trung nhiều hơn trong lĩnh vực ngân hàng; và phân phối một phần nhỏ hơn trong tổng thu nhập cho người lao động so với Mỹ.

Các quốc gia khác có thể học hỏi từ mô hình Bắc Âu nếu phù hợp, nhưng cần hiểu rằng nó đòi hỏi rất nhiều chính sách vận động theo quy tắc tư bản, thị trường, quy luật cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, rất nhiều thuế đối với chi tiêu và tiền lương của tầng lớp trung lưu, và nhiều khoản đồng thanh toán và khấu trừ trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, trong khi đó, phụ thuộc tối thiểu vào thuế doanh nghiệp.

Hầu hết các nước Bắc Âu đều không có thuế bất động sản. Các quỹ phúc lợi xã hội đến từ  nguồn trợ giúp của thuế giá trị gia tăng ảnh hưởng lớn đến người tiêu dùng trung lưu.

Ví dụ, tại Thụy Điển, tiêu dùng, an sinh xã hội và thuế tiền lương chiếm tổng cộng 27% tổng sản phẩm quốc nội, so với 10,6% tại Hoa Kỳ, theo báo cáo của JPMorgan Chase.

Hệ thống bảo hiểm y tế của Hà Lan tương tự như Obamacare, các cá nhân phải sẽ chịu một khoản khấu trừ hàng năm là $ 465 (tính đến năm 2016), theo Quỹ Commonwealth có trụ sở tại Boston.

Theo báo cáo của Peterson-Kaiser Health System Tracker - người tiêu dùng Hà Lan, chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe chiếm 11% tổng chi phí y tế trong năm 2016, tỷ lệ tương tự như ở Mỹ. Trong khi đó, tại Thụy Điển, chi tiêu tự trả chiếm 15% chi phí y tế.

Những nước này rất hào phóng; nhưng họ hiểu rằng không có thứ gì gọi là chăm sóc sức khỏe "miễn phí", và yêu cầu bệnh nhân phải có ít nhất đóng góp một phần, dưới hình thức chia sẻ chi phí, giúp giảm gánh nặng chi phí cho chính phủ.

Trên thực tế, không có quốc gia Bắc Âu nào ghi danh người nhập cư không có giấy tờ trong các chương trình y tế quốc gia của họ theo các điều khoản bình đẳng với công dân và cư dân hợp pháp. Nói chung, các quốc gia Bắc Âu cung cấp dịch vụ chăm sóc cho người lớn không có giấy tờ và chăm sóc đầy đủ cho trẻ em, chỉ trong một số trường hợp đặc biệt. Điều này không giống như ở Mỹ, nơi cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trị giá hàng tỷ đô la cho những người không có giấy tờ thông qua các kênh khác nhau, công cộng và tư nhân. Ở Đan Mạch, tổ chức từ thiện tư nhân có thể chi trả cho những người không có giấy tờ.

Kết luận:

Các quốc gia ở phía bắc châu Âu này không hoàn hảo, sự thất bại gần đây của chính phủ Phần Lan về các cải cách được đề xuất đối với hệ thống y tế gặp khó khăn về tài chính đã cho thấy điều đó.

Nếu các quốc gia đã thiết lập bất cứ mục đích nào, đó không phải hẳn phải là chủ nghĩa xã hội, hay tư bản, mà là quản trị có trách nhiệm. Các quốc gia đó đã đạt được sự phân công lao động rõ ràng, giữa chính phủ (được cho là có lợi thế so sánh trong bảo hiểm y tế và giáo dục) và khu vực tư nhân (tốt hơn trong việc sản xuất và phân phối hầu hết các hàng hóa và dịch vụ khác).

Những gì các nước Bắc Âu không làm là họ sẽ không ảo tưởng rằng xã hội có thể có một mạng lưới an toàn xã hội mạnh mẽ và hiệu quả mà không cần sự đóng góp tài chính lớn, bắt buộc từ tầng lớp trung lưu. Họ cũng không bóc lột khu vực tư nhân, nơi mà năng suất cuối cùng của toàn bộ hệ thống phụ thuộc vào.

Phạm Vũ Thăng Long (Vụ Kinh tế quốc tế và hội nhập, Ban Kinh tế Trung ương)