Làm thế nào để chuyển nền nông nghiệp sang hướng kinh tế nông nghiệp ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Nhân dịp Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh tổ chức Tọa đàm về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Kinhtetrunguong trân trọng giới thiệu bài tham luận của đồng chí Lê Anh Tuấn, Đại học Cần Thơ. 
 
1. BỐI CẢNH
 

Với một nền nông nghiệp mạnh nhất và ổn định nhất Việt Nam về diện tích, năng suất và sản lượng, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long qua nhiều thập kỷ đã chứng minh, như một mặc định chắc chắn, vai trò đóng góp cho lương thực và thực phẩm cho khoảng 2/3 dân số cả nước với hơn 55% sản lượng lúa, xuất khẩu từ 90 - 95% lượng gạo ra thế giới, 65 - 70% lượng trái cây và rau màu các loại, 75% sản lượng nuôi trồng thuỷ sản. Các nước trên thế giới, khi nói về nông nghiệp Việt Nam, từ sản xuất, kỹ thuật canh tác, sinh thái nông nghiệp đến kinh tế, chính sách và cả văn minh, văn hoá đều đặt trọng tâm vào vùng châu thổ hạ lưu cuối cùng của lưu vực sông Mekong này. Không thể có một vùng đồng bằng nào trên thế giới có thể sánh năng suất sinh học có giá trị cao hơn vùng ĐBSCL, nơi chỉ trong vòng 100 ngày, có thể tạo ra một khối lượng hơn 7 triệu tấn lương thực các loại với một giá thành sản xuất tương đối thấp, chủ yếu là sức lao động tại chỗ và nguồn tài nguyên đất - nước - thời tiết thuận lợi.

Tuy nhiên, nếu dựa vào các con số thống kê nhiều năm, phải khách quan nhìn nhận rằng, thế mạnh sản xuất nông nghiệp không đủ làm người nông dân giàu hơn thậm chí họ đang nghèo dần khi khí hậu trở nên bất thường, nguồn nước bị hạn chế, đất đai đang giảm độ phì nhiêu và bắt đầu có những bộc lộ bất cập từ các công trình can thiệt quá nhiều vào các hệ sinh thái tự nhiên. Hiện nay sự cạnh tranh, thách thức trong nền kinh tế thị trường ngày một gay gắt, lao động giá rẻ và thói quen bán thật nhiều nông sản thô với giá thấp không còn là một lợi thế. Chính sách đổi mới trong thúc đẩy nông nghiệp, cải thiện nông thôn và cho sinh kế nông dân, dù có thay đổi, nhưng đang đi quá chậm, đôi khi là hình thức, so với thực tiễn xã hội. Hệ quả là tình trạng người nông dân đang bỏ dần đồng ruộng, rủ nhau lên thành phố và các khu công nghiệp ngày một đông, tạo nên một làn sóng di dân, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn lao động trẻ ở nông thôn, thiếu tri thức và thiếu vốn đầu tư.

2. LƯỢC KHẢO CHÍNH SÁCH CHUYỂN ĐỔI NÔNG NGHIỆP

Theo Quyết định số 1895/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ (2012), mục tiêu của Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020 là "Thúc đẩy phát triển và ứng dụng có hiệu quả công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đạt mức tăng trưởng hàng năm trên 3,5%; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia cả trước mắt và lâu dài". Trong báo cáo Kế hoạch Đồng bằng Cửu Long (Mekong Delta Plan – MDP) do nhóm chuyên gia của Chính phủ Hà Lan và Việt Nam (2013) lập, khái niệm doanh nông (agri-bussiness) bắt được được giới thiệu và đầ xuất cho vùng ĐBSCL như một định hướng mới, nhưng vẫn chưa là một chính sách thực sự của Chính phủ Việt Nam.

Năm 2016, Chính phủ ra Quyết định 593/QĐ-TTg về Quy chế thí điểm về Liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL và qua năm 2017 Quốc có ban hành Luật Quy hoạch làm cơ sở cho các quy hoạch không gian và định hướng cho các chương trình đầu tư phát triển. Cuối năm 2017, Chính phủ đã xem xét những vấn đề nông nghiệp và nông thôn vùng ĐBSCL từ những báo cáo chuyên gia, nên đã cho ra một quyết sách quan trọng là Nghị quyết 120/NQ-CP về việc phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH như một chiến lược mang tính chính sách giúp ĐBSCL định vị lại quá trình phát triển, tái cấu trúc  và kích hoạt các hoạt động chuyển đổi từ sản xuất thuần nông, chỉ nhắm mục tiêu tạo ra nhiều nông sản, sang nền kinh tế nông nghiệp với mục tiêu tăng giá trị nông sản qua chuỗi chế biến, cung ứng, logistics.

 "Thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy, chủ yếu là sản xuất lúa sang tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng, đáp ứng nhu cầu của thị trường, chuyển từ phát triển theo số lượng sang chất lượng; xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển mạnh mẽ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sạch gắn với chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu; chú trọng phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp. Các sản phẩm nông nghiệp không chỉ để bảo đảm an ninh lương thực mà còn có giá trị dinh dưỡng cao, phục vụ công tác phòng, chữa bệnh tạo nên những thương hiệu nổi tiếng". Trích Một trong 4 quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 120/NQ-CP

Như vậy, về chủ trương của Chính phủ đã khá rõ, tuy nhiên dù Nghi quyết 120/NQ-CP của Chính phủ ban hành từ 2017 nhưng đã gần 4 năm qua, việc chuyển đổi qua nền kinh tế nông nghiệp vẫn chưa có những chuyển biến đáng kể vì còn nhiều rào cản mà phải cần những hỗ trợ cần thiết và thời gian cho các chuyển đổi.

3. CÁC CHUYỂN ĐỔI NÔNG NGHIỆP VÀ RÀO CẢN

Thực tế, người nông dân đây đó ở vùng châu thổ cũng đã tự chuyển đổi sang những hình thái sản xuất nông nghiệp theo hướng làm tăng giá trị nông sản (agricultural products value chains) qua từng khâu cung ứng ra thị trường. Người nông dân và hợp tác xã nông nghiệp của họ có thể được sự hỗ trợ của chương trình "Mỗi xã - một sản phẩm" (One commune – one product, viết tắt là OCOP) (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2020). Các hàng nông sản được chế biến thành những sản phẩm, dịch vụ được phát triển dựa trên lợi thế so sánh của cộng đồng, có gia tăng giá trị và ảnh hướng tích cực đến cộng đồng. Sản phẩm được dán nhãn OCOP có thể đăng ký nhãn hiệu độc quyền, tăng thế cạnh tranh trong thị trường. Các thông tin thị trường, phản ánh người tiêu dùng, cộng thêm các yếu tố thời tiết, có thể cập nhật giúp người dân có những quyết định canh tác cho mỗi thời vụ của mình (Hình 1).

Hình 1: Chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp và bán nông sản thuần tuý sang sản xuất hàng hoá theo chuỗi cung ứng giá trị tăng dần như một nền kinh tế nông nghiệp đa lợi ích

 

Đối với những gia đình trung nông, đã có truyền thông tự chế biến các hàng nông sản, thuỷ sản của mình như làm bún, bánh tráng, bột các loại lương thực có hạt như gạo, đậu, muối dưa các loại rau cải, phơi sấy củ trái, làm mắm cá, tép… họ tự đóng gói, bỏ mối hoặc trực tiếp bán ngoài chợ thì thu nhập cũng ổn định và có tích luỹ. Với cá hàng nông sản có khối lượng lớn hơn như gạo, trái cây, cá da trơn, tôm nước lợ, mặn thì hình thức tập hợp dạng hợp tác xã mua bán và chế biến cũng đem lại lợi ích cho người nông dân.

Nếu người nông dân tham gia hữu hiệu được quá trình làm tăng giá trị nông sản, sẽ là cơ hội không chỉ làm tăng thu nhập cho gia đình nông dân, còn có ý nghĩa xã hội trong việc tạo nên công ăn việc làm cho nhiều lao động trong cộng đồng, giảm các tệ nạn xã hội trong nông thôn, kể cả thúc đẩy phát triển làng nghề, bảo tồn văn hoá bản địa, hoạt động du lịch… Các hình thức canh tác nông nghiệp theo các định hướng thị trường (market oriented agricultural production) ngày một phổ biến. Ở các công ty lớn hơn, họ có thể kêu gọi người nông dân trồng lúa, nuôi cá, nuôi tôm cũng nhau gom ruộng đất cùng làm chung, nhưng vẫn sở hữu quyền sử dụng canh tác, đưa các tiến bộ kỹ thuật và cơ giới để sản xuất và bao tiêu sản phẩm đưa qua chế biến, đóng gói, dán nhãn, quảng bá và phân phối ở các chợ, siêu thị và xuất khẩu. Như vậy, người nông dân trở thành một cổ đông trong hoạt động sản xuất và tham gia các bước làm tăng giá trị, không khỏi e ngại thiếu vốn, thiếu kỹ thuật cho quá trình chuyển đổi. Cách thức tạo nên chuỗi sản xuất – chế biến - cung ứng này đang được một số tập đoàn lớn áp dụng và hoạt động khá ổn định như Vinamit, Vinamilk, Mỹ Lan… Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi sang kinh tế nông nghiệp dường như không được suông sẻ, có nhiều rào cản khiến những mong muốn chưa đạt được. Một số nguyên do có thể nhận biết:

  • Thứ nhất là thiếu tính liên kết với sự tin cậy chặt chẽ. Có những địa phương triển khai các tiến trình liên kết trong chuỗi sản phẩm nhưng có những lúc xảy ra quá trình bội ước trong giao kèo, đặc biệt những lúc giá cả, dịch vụ có biến động làm các cam kết trước đó đã không thực thi, ví dụ nông dân hứa đem nông sản đến một cơ sở A nào đó để chế biến để có một giá thành cao hơn nhưng khi biết có những đơn vị B nào khác cho giá cả cao hơn thì mang sang đơn vị B và bỏ cơ sở A, hoặc trường hợp Công ty hứa sẽ tiêu thụ sản phẩm đã qua sơ chế của nông dân nhưng khi thị trường quá dư thừa thì từ chối mua hàng của nông dân hoặc ra điều kiệp ép giá thấp hơn hứa hẹn trước đó. Có trường hợp nông dân chạy theo xu hướng chuyển đổi canh tác cây trồng khác một cách khiến kế hoạch cung ứng bị đứt gãy đột ngột.
  • Thứ hai là thiếu các thông tin thị trường. Thông tin về giá cả thị trường, quy chuẩn hàng hoá, xu hướng người tiêu dùng, tình hình sản xuất nông sản trong và ngoài nước không đầy đủ và kênh thông tin không rõ ràng khiến những chuỗi sản xuất mất phương hướng khi mà cả người nông dân, các dịch vụ đi kèm, nhà phân phối chỉ biết sản xuất mà không có những phân tích kinh tế hàng hoá nông sản qua chế biến.
  • Thứ ba là thiếu kinh phí và thiếu đầu tư công nghệ. Với sức sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún thiếu kinh phí để đầu tư các kỹ thuật và công nghệ chế biến mới khiến chuỗi cung ứng cấp huyện xã hay cộng đồng nhanh chóng bị lạc hậu, khó có thể cạnh tranh trên thị trường lớn hơn thay vì chỉ giới hạn như một sản phẩm đơn lẻ trong cục bộ địa phương.
  • Thứ tư là thiếu các cải tiến chính sách và thủ tục kịp thời. Thay vì nhanh chóng tìm ra những điểm thắt về thủ tục hành chính để có những chỉ đạo thay đỗi theo hướng thông thoáng và dễ dàng cho các khâu chuyển đổi, kể các chính sách miền giảm thuế hay chính sách hỗ trợ khuyến công, thì nhiều nơi đưa ra các quy định đăng ký phức tạp, tốn nhiều thời gian để minh chứng, giải quyết, đôi khi gây nhiều tốn kém khiến nông dân không còn mặn mà trong các bước chuyển đổi.
  • Thứ năm là thiếu một quy hoạch chiến lược phát triển bền vững, trong đó có các định hướng cấp vùng rộng hơn và lâu dài hơn, so với các kế hoạch phát triển ở từng địa phương. Luật Quy hoạch năm 2017 có lưu ý nhiều đến tính tích hợp nhưng đến nay vẫn chờ Quy hoạch vùng được phê duyệt, sau đó mới đến các quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch cấp tỉnh.

Năm rào cản trên thật ra không phải là mới, ngay cả các quốc gia có nền nông nghiệp phát triển cũng phải mất nhiều năm mới cải tiến dần. Tuy nhiên ở nước ta, dường như quá trình đi quá chậm so với mong đợi, cộng thêm có nhiều yếu tố không tiên đoán được hoặc không chắc chắn như dịch bệnh COVID hay thiên tai hạn – mặn hoặc di dân lao động không kiểm soát có thể làm các kế hoạch trở nên bất khả thi hay phá vỡ thành quả ban đầu và có nguy cơ đưa người nông dân quay trở về kiểu sản xuất nông nghiệp cũ hay tiếp tục khai thác thô tài nguyên thiên nhiên.

4. ĐỀ XUẤT THÁO GỠ VÀ ĐỊNH HƯỚNG LÂU DÀI

Giải phát tháo gỡ cho 5 rào cản này là sự tổng hợp đa chiều, trước hết vẫn phải từ sự quyết tâm cải tiến chính sách và chỉ đạo liên tục của Chính phủ và Chính quyền địa phương, thêm các đóng góp các nhà khoa học, sự đầu tư của các doanh nghiệp, ngân hàng, các hỗ trợ các tổ chức dân sự. Cuối cùng là bản thân các nhà nông trong cộng đồng phải được nâng cao năng lực, thúc đẩy quá trình tham gia, kể cả hỗ trợ cho các nhóm yếu thế trong nông thôn, để tiến đến một nền sản xuất nông nghiệp bền vững hơn, với một cơ sở kinh tế tuần hoàn làm tăng giá trị sản phẩm và thu nhập, đi xa hơn là hướng đến một nên nông nghiệp thông minh như các nước tiên tiến.

Hiện nay, khái niệm nông nghiệp công nghệ cao ngành một phổ biến như là một hình thức làm gia tăng giá trị kinh tế. Đây là hình thức nông nghiệp áp dụng những kỹ thuật mới vào sản xuất bằng cách gia tăng hàm lượng cơ giới hóa, tự động hóa các khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ sinh học liên quan đến giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường. Trong các định hướng thích ứng với sự thay đổi, các mô hình canh tác mới đã được giới thiệu như sự hình thành phát triển nông nghiệp thông minh. Đây là một kiểu sản xuất theo xu hướng ứng dụng công nghệ cao (như cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa, …); công nghệ sản xuất xanh thân thiện với môi trường, ít tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, ít tạo ra phát thải khí nhà kính. Đến với tiếp cận này, toàn bộ sản phẩm nông nghiệp được bảo quản sạch, chế biến theo tiêu chuẩn an toàn, gia tăng giá trị sản phẩm nông sản với sự nhận diện chất lượng.

Điều kiện để thực hiện phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là cần có những kết hợp giữa các nhà quản lý – nhà nông – nhà khoa học và nhà doanh nghiệp, gọi tắt là liên kết 4 "nhà" (Đinh Quang Hải, 2007; Nguyễn Duy Cần và cs., 2011), song song đó cần có sự liên kết hỗ tương của nhà tài trợ (như các tổ chức Phi chính phủ, các các Tổ chức Xã hội dân sự) và nhà ngân hàng (hỗ trợ hoạt động cho vay, tín dụng, chương trình ưu đãi,…). Trong sản xuất nông nghiệp, phải có sự tích hợp 6 ngành: ngành cơ giới – tự động, ngành khí tượng – thủy văn; ngành công nghệ sinh học, hóa học – ngành bảo quản và chế biến nông sản, ngành tài chính – quản trị kinh doanh và ngành công nghệ thông tin, như Hình 2.

Sau này, với sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng của kỹ thuật kết nối điện toán internet với công nghệ đám mây, ngày càng thuận tiện và đơn giản hơn qua điện thoại thông minh cầm tay (smart phone), khái niệm nông nghiệp công nghệ cao đổi tên thành nông nghiệp thông minh (SA). Theo đó Võ Quang Minh (2016), mô hình nông nghiệp thông minh ngắn hạn có khả năng áp dụng cho sản xuất như hệ thống khí canh thương mại, cảm biến theo dõi cây trồng sử dụng năng lượng mặt tròi, kết nối wifi và được kiểm soát bằng điện thoại thông minh. Hệ thống cảm biến dinh dưỡng đất thông minh, dinh dưỡng phục vụ cho bón phân hiện đại, tiết kiệm chi phí theo nhu cầu của cây và đất thay cho bón ước lượng trước đây. Khi có những tích hợp các thông số thay đổi thời tiết, khí hậu thì tên gọi lại bổ sung thành nông nghiệp thông minh ứng phó với biến đổi khí hậu, gọi tắt là climate smart agriculture (CSA). Với CSA, các chương trình điện toán được thiết kế cài đặt trong các bo mạch để giúp nông dân có những lựa chọn tối ưu một cách thông minh từ các phân tích điều kiện mưa, độ ẩm, bức xạ, nhiệt độ, ánh sáng theo các thông số đất đại, giai đoạn sinh trưởng và nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng, vật nuôi để có những quyết định phù hợp với mức tưới, bón phân hợp lý.

Hình 11: Điều kiện và các quan hệ chuyển đổi từ canh tác nông nghiệp theo tập quán cổ truyền sang canh tác nông nghiệp công nghệ cao/ nông nghiệp thông minh (Nguồn: Lê Anh Tuấn, 2017)

Quá trình đi đến một nền sản xuất nông nghiệp thông minh, việc chuyển đổi lối canh tác theo tập quán cổ truyền sang những hình thức nông nghiệp đa canh (poly-culture) theo kiểu thích dứng dựa vào hệ sinh thái (Ecosystem based Adapatation – EbA) (IUCN, 2014) là một bước đi cần được khuyến khích nhờ những đặc điểm chính là (i) đặt trọng tâm vào con người, chủ yếu là người nông dân và cộng đồng chung quanh họ; (ii) chủ yếu dựa vào thiên nhiên mà thích ứng nên không gây tổn thương cho tự nhiên, bảo vệ đưoợc môi trường, và (iii) khá an toàn khi đánh giá rủi ro của mô hình chuyển đổi so với những những đầu tư khác. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng, áp dụng EbA cho các hệ canh tác nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ tiết kiệm chi phí đầu tư hơn, dẫn đến hiệu quả cao hơn về tài chính khi xét trong thời đoạn dài và có thể tạo nên tính đa lợi ích khi các phụ phẩm của nông sản đều được tái sử dụng và đặc biệt, EbA được đánh giá là phương án lựa chọn không/ ít hối tiếc.

5.KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Đối với một quốc gia nông nghiệp đang phát triển như Việt Nam hay riêng biệt hơn ở vùng ĐBSCL, việc chuyển đổi từ một nền nông nghiệp cổ truyền tương đối ổn định lâu dài sang nên kinh tế nông nghiệp và áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất nông nghiệp ở quy mô lớn vẫn chưa phổ biến. Thực tế, các mô hình sản xuất nông nghiệp tiên tiến hiện nay ở ĐBSCL xuất phát từ sự sáng tạo của nông dân cho phù hợp với điều kiện biến động thời tiết, nguồn nước và các yếu tố khác liên quan đến thị trường, lao động, vốn đầu tư và điều kiện thay đổi tài nguyên và sinh thái. Hầu hết mang tính đối phó trước mắt và phù hợp cho các mục tiêu ngắn và trung hạn. Sau đó, các nhà khoa học và các tổ chức phi chính phủ đã có những hỗ trợ căn cơ về mặt kỹ thuật hơn và hệ thống hơn nhằm có những giải pháp đối phó mang tính thích nghi lâu dài hơn. 

Tuy đã có những khuyến khích từ phía nhà nước, nhưng việc triển khai và áp dụng vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức. Các chính sách nhà nước liên quan đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường và áp dụng công nghệ cao hay nông nghiệp thông minh cần phải xem xét cải tổ bao gồm:

  • Mở rộng hạn điền; xem xét quyền sở hữu đất đai, sửa đổi Luật Đất đai;
  • Giảm thuế cho các áp dụng công nghệ cao hay nông nghiệp thông minh;
  • Chính sách ưu đãi trong vay vốn chính phủ cho nông nghiệp thông minh;
  • Nâng cấp giá trị hiệu quả các đơn vị nghiên cứu sản xuất và thị trường nông nghiệp;
  • Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức quốc tế hỗ trợ nông nghiệp.

Về phía các nhà khoa học và nhà tài trợ, các thực hành nghiên cứu sau cần đầy mạnh:

  • Nâng cao năng lực cho người nông dân và cán bộ khuyến nông, tranh bị các kiến thức nhấ định về kinh tế nông nghiệp và thông tin giá cả thị trường.
  • Tiếp tục cải tiến các giống cây trồng và vật nuôi có khả năng chịu đựng ngưỡng thời tiết - khí hậu khắc nghiệt hơn, nhằm giảm thiểu thiệt hại kinh tế và xã hội.
  • Đánh giá các mô hình chuyển đổi nông nghiệp theo các tiêu chí hiệu quả kinh tế và các thông số theo dõi khả năng duy trìn hệ sinh thái và bảo vệ môi trường, các vấn đề lao động cộng đồng, xã hội - sinh kế.
  • Đề xuất và thử nghiệm các mô hình nông nghiệp thông minh thích nghi với khí hậu;
  • Xây dựng và duy trì mạng lưới thông tin, hệ thống cảnh báo thời tiết - thiên tai.
  • Tăng cường hợp tác quốc tế và quốc gia. Thường xuyên trao đổi, chia sẻ thông tin trong và ngoài nước liên qua đến nông nghiệp thông minh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2020). Sổ tay Hỏi – Đáp Chương trình Mỗi Xã một Sản phẩm. http://nongthonmoi.daknong.gov.vn/wp-content/uploads/2021/03/So-tay-hoi-dap-OCOP.pdf

Chính phủ (2016). Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016 – 2020. Quyết định số 593/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 06/4/2016. http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=2&_page=1&mode=detail&document_id=184257

Chính phủ (2017). Nghị quyết về Phát triển Đồng bằng Sông Cửu Long Thích ứng với Biến đổi Khí hậu. Nghị quyết số 120/NQ-CP, do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký ngày 17/11/2017. http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=509&_page=1&mode=detail&document_id=192249

Đinh Quang Hải (2007). Liên kết "4 nhà": Nhà nước, Nhà nông, Nhà khoa học và Nhà doanh nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 4: 9-19.

IUCN (2013). Ecosystem based Adaptation: Concept, Principles and Options. https://www.iucn.org/sites/dev/files/import/downloads/ecosystem_based_adaptation_concept__principles_and_options.pdf

Lê Anh Tuấn (2017). Chuyển đổi canh tác nông nghiệp ở ĐBSCL: từ cổ truyền sang công nghệ cao. Bài trình bày tại Hội thảo "Tăng cường nguồn lực hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu tại Đồng Bằng Sông Cửu Long", An Giang.

Nguyễn Duy Cần, Võ Hồng Tú và Nguyễn Văn Sánh (2011). Liên kết "4 nhà" trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo: trường hợp nghiên cứu ở tỉnh An Giang. Tạp chí Khoa học – trường Đại học Cần Thơ, 2011:20a: 220-229

The Socialist Republic of Vietnam and the Kingdom of the Netherlands (2013). Mekong Delta Plan - Long-term vision and strategy for a safe, prosperous and sustainable delta. https://www.wur.nl/upload_mm/2/c/3/b5f2e669-cb48-4ed7-afb6-682f5216fe7d_mekong.pdf

Thủ tướng Chính phủ (2012). Quyết định Về việc phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020. Quyết định số 1895/QĐ-TTg, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 17/12/2012. http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=2&_page=1&mode=detail&document_id=164967

    Võ Quang Minh (2016). Nông nghiệp thông minh và tiềm năng phát triển vào sản xuất. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 11/2016: 231-238. 

Lê Anh Tuấn, Đại học Cần Thơ (Kỷ yếu tọa đàm về ĐBSCL)