Hội thảo Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung Du và Miền núi Bắc bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Ngày 14/12/2019 tại tỉnh Thái Nguyên, Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Thái Nguyên tổ chức Hội thảo "Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung Du và Miền núi Bắc bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Đây là sự kiện quan trọng nhằm củng cố các cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn thiện Đề án tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX.

Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 37-NQ/TW phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo

Hội thảo có sự tham dự và chủ trì của đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 37-NQ/TW; Đồng chí Trần Quốc Tỏ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên; Đồng chí Nguyễn Hồng Sơn, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Tổ trưởng Tổ Biên tập Nghị quyết 37-NQ/TW.

Sự kiện có sự tham dự của đại diện lãnh đạo Ban Dân vận Trung ương; Ban Tuyên giáo Trung ương; Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Văn phòng Chính phủ; Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương; Ủy ban Kinh tế Quốc hội; Ủy ban Dân tộc Quốc hội và Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Đồng chí Trần Quốc Tỏ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên phát biểu tại Hội thảo

Ngoài ra, Hội thảo còn thu hút hàng trăm đại diện đến từ các viện, trường như Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Đại học Kinh tế Quốc dân; Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Đại học Thái Nguyên; Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam; Viện Hợp tác Việt Nam; Viện Phát triển bền vững;... cùng nhiều chuyên gia, nhà khoa học khác. Đặc biệt, tham dự Hội thảo có đầy đủ đại diện lãnh đạo các tỉnh, các sở, ngành của toàn bộ 16 tỉnh trong vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ.

Hội thảo được tổ chức trong bối cảnh vùng Trung Du và Miền núi Bắc bộ đã có những thành tích đáng kể sau 15 năm thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị, phần lớn các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Vùng đã hoàn thành và vượt kế hoạch. Đời sống của người dân đã cải thiện đáng kể. Có thể thấy, với địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế xã hội, sinh thái và môi trường; là "phên dậu", cửa ngõ quốc gia; là căn cứ địa cách mạng; là đầu nguồn của hầu hết các dòng sông phía Bắc; chiếm hơn 1/3 diện tích, khoảng 15% dân số của cả nước với hơn 30 dân tộc anh em chung sống với văn hóa phong phú gắn và lịch sử của nhiều cộng đồng dân tộc, Nghị quyết 37-NQ/TW có tầm quan trọng và ý nghĩa hết sức to lớn đối với vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ. Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, sự phát triển của vùng còn nhiều hạn chế, bất cập.

Đồng chí Nguyễn Hồng Sơn, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Tổ trưởng Tổ Biên tập Nghị quyết 37-NQ/TW

phát biểu tại Hội thảo

Trước thực trạng đó, ngày 26/3/2019, Ban Bí thư đã ban hành Quyết định số 184-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 37 của Bộ Chính trị khóa IX về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ đến 2020. Ban Chỉ đạo gồm đại diện 19 bộ, ban, ngành và bí thư tỉnh ủy của 14 địa phương trong vùng. Đề án nhằm đánh giá toàn diện kết quả thực hiện Nghị quyết 15 năm qua, những thành tựu đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế. Trên cơ sở đó dề xuất những chủ trương, quan điểm phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ đến 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Phát biểu đề dẫn và định hướng tại Hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 37-NQ/TW nhấn mạnh, Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị, được sự quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ tích cực của Trung ương; sự chủ động, sáng tạo nắm bắt cơ hội, cố gắng vươn lên của hệ thống chính trị và đồng bào các dân tộc các địa phương trong vùng; kinh tế- xã hội vùng trung du và miền núi Bắc Bộ và các địa phương trong vùng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hàng năm của các tỉnh trong Vùng giai đoạn 2004-2018 đạt mức gần 10%. Thu nhập, tính theo GRDP bình quân đầu người, đạt 43,6 triệu đồng/người vào năm 2018, gấp gần 9,8 lần so với năm 2004. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, theo hướng hiện đại: đến năm 2018, công nghiệp, xây dựng chiếm 40,43%; dịch vụ chiếm 35,86%; nông lâm nghiệp, thủy sản chiếm 18,6%; thuế và trợ cấp sản phẩm chiếm 5,11%. Vùng đã phát huy được nội lực của Vùng, thu hút mạnh các nguồn lực để tập trung đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế. Từ đó, Vùng đã không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, vừa giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Có thể nói Nghị quyết 37-NQ/TW đã đi vào cuộc sống và tạo ra một diện mạo mới cho các địa phương trong vùng; hầu hết các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết đã cơ bản đã được hoàn thành.

Các đồng chí lãnh đạo tham quan triển lãm

Tuy nhiên, đồng chí Nguyễn Văn Bình cũng cho rằng, cho đến nay, vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ vẫn còn bộc lộ một số hạn chế. Về năng lực sản xuất, tăng trưởng của một số địa phương chưa thực sự bền vững, với sự phân mảnh trong Vùng khi một số tỉnh như Thái Nguyên, Lào Cai, Bắc Giang đang vươn lên so với các tỉnh khác. Về mức sống của người dân, thu nhập bình quân của Vùng đang ở mức thấp nhất trong số các Vùng của cả nước, và khoảng cách về thu nhập so với cả nước đang có xu hướng doãng ra. Trong khi đó, sự phân phối thu nhập lại thể hiện tính bất bình đẳng cao nhất trong các Vùng trong cả nước. Bên cạnh đó, tỷ lệ hộ nghèo của Vùng tính đến năm 2018 đạt mức cao nhất so với các vùng, và cao gấp 3 lần so với mức trung bình toàn quốc. Chất lượng giáo dục và đào tạo còn chưa đáp ứng nhu cầu, với tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp hơn mức trung bình toàn quốc. Về công tác quy hoạch, sự phát triển các khu công nghiệp còn thiếu sự thống nhất trên quy mô liên tỉnh, các công trình thủy lợi chủ yếu với quy mô nhỏ và hiệu quả chưa cao, du lịch phát triển chưa bền vững, tốc độ đô thị hóa thấp hơn so với trung bình toàn quốc. Về môi trường, tỷ lệ che phủ rừng ở một số tỉnh còn khá thấp, chưa tương xứng với vai trò đặc biệt quan trọng của Vùng trong việc đảm bảo an ninh nguồn nước, an ninh sinh thái cho cả nước. Và việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung chưa được quan tâm đúng mức.

Các đồng chí lãnh đạo tham quan triển lãm

Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan. Về nguyên nhân khách quan, địa hình đồi núi chia cắt, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu. Quy mô nền kinh tế nhỏ, lại bị xé lẻ bởi địa giới hành chính. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn chưa đồng bộ và chưa đáp ứng được yêu cầu về phát triển. Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008-2010 với những tác động bất lợi đã hạn chế các nguồn lực hỗ trợ cho các địa phương trong Vùng đạt được các mục tiêu về phát triển. Và đường biên giới dài, hiểm trở, gây khó khăn cho công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh. Về nguyên nhân chủ quan, tư duy về phát triển đối với Vùng còn chậm được đổi mới. Ngoài ra, đầu tư và hỗ trợ của Trung ương đối với các địa phương trong Vùng còn chưa ngang tầm với vị trí, vai trò của Vùng với cả nước. Quy mô vốn đầu tư của Vùng còn thấp, với cơ cấu đầu tư chưa thực sự hợp lý, và hiệu quả chưa cao. Thêm nữa, một số cơ chế chính sách đặc thù cho Vùng chưa mang tính đột phá, chưa thực sự phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Hơn nữa, việc tổ chức thực hiện các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước của các địa phương trong Vùng ở một số mặt còn hạn chế; năng lực của bộ máy quản lý nhà nước còn một số bất cập; công tác chỉ đạo, điều hành tuy có chuyển biến nhưng chưa đồng đều. Môi trường đầu tư và kinh doanh của các tỉnh trong Vùng chậm được cải thiện hơn so với toàn quốc. Và còn thiếu một hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô thống nhất trong toàn Vùng làm cơ sở cho công tác hoạch định chính sách phát triển Vùng.

Quang cảnh Hội thảo

Đồng chí Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt của hội thảo và đề nghị các đại biểu đánh giá và thảo luận cần tập trung hướng vào một số nội dung:

Thứ nhất, thảo luận, làm rõ những nhận định, phân tích của Tổ Biên tập về các kết quả đạt cũng như những hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện Nghị quyết 37, chỉ rõ đâu là các nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém.

Thứ hai, làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Vùng trong tổng thể quốc gia, vùng; dự báo về bối cảnh mới trong nước, quốc tế tác động tích cực, tiêu cực đến sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và vùng; những thuận lợi và khó khăn của vùng và các địa phương trong từng ngành, lĩnh vực trong phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ trong thời gian tới

Thứ ba, nhận diện và làm sâu sắc hơn các tiềm năng, lợi thế của từng địa phương trong vùng; các ngành, lĩnh vực, địa bàn cần được ưu tiên nguồn lực đầu tư; các trục/trụ cột phát triển cơ bản và thứ tự ưu tiên đầu tư cho từng địa phương, tiểu vùng… nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội vùng và các địa phương đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. 

Thứ tư, thảo luận, đề xuất được các chương trình, công trình, dự án cho từng ngành, lĩnh vực hoặc địa phương để thu hút, dẫn dắt các nguồn lực và tạo ra động lực tại chỗ phục vụ phát triển kinh tế- xã hội các địa phương, vùng.

Thứ năm, thảo luận, đề xuất các nhiệm vụ và giải pháp đối với phát triển vùng, tập trung trả lời, làm rõ các câu hỏi: Phát triển kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng vùng sẽ như thế nào? Công tác quy hoạch và phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội sẽ cải thiện ra sao? Thực hiện liên kết vùng thế nào? Vấn đề phát triển văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh như thế nào?

Hội thảo đã diễn ra sôi nổi với hàng chục tham luận, ý kiến phát biểu có chất lượng cao. Các đại biểu tập trung thảo luận vào những điểm cốt lõi nhằm phát triển bền vững vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Những chủ đề được tập trung thảo luận bao gồm:

- Quan điểm, cơ chế, chính sách và nguồn lực nhằm tích hợp các quy hoạch để thu hút và khai thông các nguồn lực nhằm phát triển vùng vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

- Quan điểm và định hướng chính sách trong vấn đề giảm nghèo của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ,

- Quan điểm và những đột phá trong bối cảnh mới để phát triển du lịch vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ.

- Thể chế liên kết, điều phối phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm đến năm 2045.

- Thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội và đảmbảo quốc phòng, an ninh vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ

- Phát triển kinh tế cửa khẩu gắn với du lịch và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cho phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ.

- Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cho phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

- Cơ chế, chính sách huy động và phân bổ các nguồn lực cho kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ.

- Cơ chế, chính sách và nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Bình - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban kinh tế TW, Trưởng Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 37 - nhấn mạnh vùng Trung Du và miền núi Bắc bộ là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước. Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị, được sự quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ tích cực của Trung ương; sự chủ động, sáng tạo, cố gắng vươn lên của hệ thống chính trị và đồng bào các dân tộc các địa phương trong vùng; Nghị quyết 37-NQ/TW đã đi vào cuộc sống với hầu hết các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết đã cơ bản đã được hoàn thành; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và đạt nhiều thành tựu đáng kể, tạo ra một diện mạo mới cho các địa phương trong vùng.

Tuy nhiên, cho đến nay, vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ vẫn là vùng nghèo và khó khăn nhất của cả nước với quy mô kinh tế còn nhỏ so với các vùng khác; nhiều tiềm năng, lợi thế chưa được khai thác hết; tăng trưởng kinh tế chưa bền vững; chuyển dịch cơ cấu kinh tế của phần lớn các địa phương chậm; cơ cấu kinh tế vùng chỉ là phép cộng cơ học của các địa phương, chưa mang dấu ấn vùng.

Thời gian tới, vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ có nhiều cơ hội, thuận lợi để phát triển nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Đồng chí Nguyễn Văn Bình đề nghị cần thay đổi suy nghĩ phát triển vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ không phải chỉ cho vùng mà phải đặt vùng trong tổng thể cả nước, trong liên kết với hành lang Đông Tây và hành lang Bắc Nam, giữa vùng với vùng đồng bằng Sông Hồng và vùng duyên hải Bắc Bộ.

Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, do điều kiện tự nhiên và khó khăn về nguồn nhân lực, đồng chí đề nghị cần cân nhắc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang công nghiệp và xây dựng ở mức vừa phải, thay vào đó tập trung chuyển dịch theo hướng dịch vụ và nông nghiệp. Với vai trò quan trọng của vùng trong đảm bảo môi trường sinh thái cho cả miền Bắc, đồng chí đề nghị phải phát triển bền vững trong đó đặc biệt quan tâm tới vấn đề bảo vệ rừng, coi đây vừa là kế sinh nhai, thoát nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái.

Đồng chí nhấn mạnh hai vấn đề quan trọng để phát triển vùng đó là đầu tư và cơ chế chính sách. Do những đặc thù khó khăn cùng với vị trí, vai trò quan trọng của vùng, phải có tầm nhìn để ưu tiên nguồn lực ngân sách trung ương đầu tư cho vùng Trung Du và miền núi Bắc Bộ. Việc đầu tư cần trọng tâm trọng điểm, ưu tiên các dự án có tính liên kết lan tỏa và hạ tầng giao thông. Bên cạnh đó, cần có cơ chế chính sách đặc thù để khuyến khích và thu hút được đầu tư của xã hội, tạo nguồn lực phát triển cho vùng. Đồng chí cũng đề nghị cần đặc biệt quan tâm đảm bảo an ninh quốc phòng gắn với vấn đề tôn giáo và dân tộc.

Đồng chí Nguyễn Văn Bình đề nghị Ban Chỉ đạo đề án tiếp thu các ý kiến đóng góp và ghi nhận đề xuất Trung ương ban hành một Nghị quyết mới để có định hướng và động lực mạnh mẽ hơn nữa trong việc phát triển vùng tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và vị trí chiến lược của vùng.

Cùng ngày, đồng chí Nguyễn Văn Bình đã tham dự và chủ trì Hội nghị Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 37 để các ban, bộ, ngành và các địa phương tham gia ý kiến vào các dự thảo Báo cáo tổng kết Nghị quyết 37 phục vụ việc hoàn thiện chuẩn bị trình báo cáo Bộ Chính trị trong thời gian tới./.

TTTTPTDBKT