Phát triển nông nghiệp và nông thôn, nâng cao đời sống nông dân: Xác định các nhiệm vụ, giải pháp trong tình hình mới

Dự báo xu hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới là chuyển nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn theo chuỗi giá trị, lấy thị trường làm cơ sở để định hướng sản xuất; trong đó, có sự cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; Phát triển sản xuất theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; Nông thôn phát triển theo mô hình nông thôn mới kiểu mẫu....,

Nhà máy sản xuất hàng thể thao của Công ty Cổ phần sản xuất hàng thể thao MXP chi nhánh Thái Bình tạo việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương.

 

Thái Bình đã xác định các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm để thực hiện thành công mục tiêu: Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn với tốc độ cao, ổn định và bền vững; có cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý, phù hợp với nền kinh tế tri thức, hiện đại, có hiệu quả cao, có khả năng thích ứng nhanh chóng với sự phát triển của khoa học công nghệ (nhất là Cách mạng khoa học công nghệ 4.0), có khả năng cạnh tranh cao và khả năng hòa nhập tốt với kinh tế khu vực và thế giới. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn,  tăng cường đào tạo nâng cao trình độ nông dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Tiếp tục đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới theo hướng văn  minh hiện đại, nâng cấp công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo hướng hiện đại, gắn với đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động hợp lý; giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao dân trí, bảo vệ tốt môi trường sinh thái; nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự quản lý nhà nước; củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.

Ngư dân Thái Bình khai thác tiềm năng, thế mạnh từ biển

 

Trong tình hình mới, thời cơ đến là nền kinh tế thế giới và trong nước sau khủng hoảng từng bước được phục hồi và tiếp tục phát triển; hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sâu, rộng; Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tạo điều kiện thúc đẩy lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn. Thuận lợi lớn nhất là hiện tại và trong thời gian tới, Thái Bình luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất (thủ tục hành chính, cơ chế, chính sách...) để thu hút các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn vào đầu tư phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Mặt khác, với Thái Bình, nông dân là lực lượng đông đảo, trình độ, ý thức, vai trò chủ động sáng tạo của người nông dân ngày càng được nâng cao; nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp đã và đang được áp dụng rộng rãi trên địa bàn toàn tỉnh...

Bên cạnh thời cơ và thuận lợi, không ít khó khăn, thách thức đặt ra: Biến đổi khí hậu, nước biển dâng ngày càng rõ hơn và có những diễn biến bất thường; dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi ngày càng phức tạp, khó lường. Nguồn lực để đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa, nông nghiệp công nghệ cao trong nông dân vẫn hạn chế; số doanh nghiệp, tập đoàn lớn quan tâm đầu tư phát triển nông nghiệp không nhiều. Do hội nhập kinh tế quốc tế, sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, giá thành rẻ ở các nước sẽ vào Việt Nam ngày càng nhiều; cạnh tranh thị trường các mặt hàng nông sản ngày càng khốc liệt, đặc biệt yêu cầu về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm đòi hỏi ngày càng cao, sản phẩm cần phải có thương hiệu. Chuyển dịch lao động vào làm việc tại các khu công nghiệp, tỷ lệ già hóa nông dân ngày càng cao; tập quán sản xuất lạc hậu, nông dân có tâm lý giữ đất sản xuất; Luật Đất đai năm 2013 là thách thức lớn cho việc tập trung tích tụ ruộng đất chuyển sang phát triển sản xuất hàng hóa. Đất đai manh mún (trung bình 0,2ha/hộ) cũng là thách thức lớn cho quy hoạch lại và xây dựng các vùng chuyên canh.

rước tình hình thực tế, Thái Bình đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2025 và 2030: Về nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất 2,5%/năm giai đoạn 2018 – 2025, 2,0 - 2,5%/năm giai đoạn 2026 - 2030; đến năm 2030, tỷ trọng ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 17-18% trong cơ cấu kinh tế. Về nông dân, đến năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 70%; trong đó đào tạo nghề khoảng 56,5%; định hướng đến năm 2030 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 85%, đào tạo nghề khoảng 70-75%. Về nông thôn, đến năm 2025 có 100% số huyện đạt chuẩn nông thôn mới; mỗi huyện, thành phố xây dựng tối thiểu một xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; cơ cấu kinh tế nông thôn đến năm 2030: công nghiệp, xây dựng 46-47%; dịch vụ 37-38%; nông nghiệp 17-18%; cơ cấu lao động đến năm 2030 phi nông nghiệp 80%, nông nghiệp 20%.

Hướng tới thực hiện mục tiêu đặt ra, Thái Bình xác định 12 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Một là, nâng cao nhận thức về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tiếp tục huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tuyên truyền, các loại hình tuyên truyền; tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, thường xuyên, có hiệu quả trên cả 4 loại hình: Tuyên truyền miệng, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền trực quan và tuyên truyền qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ. Nội dung tuyên truyền tập trung quán triệt các nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết số 26-NQ/TW, Chương trình hành động số 23-CTr/TU, Nghị quyết số 02-NQ/TU; tuyên truyền về vai trò, tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tuyên truyền để các cấp, các ngành và nhất là người dân hiểu được việc tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tích tụ ruộng đất, tăng quy mô sản xuất theo hướng hàng hóa là một tất yếu khách quan trong tình hình mới; để từ đó người dân và các cấp, các ngành đổi mới tư duy sản xuất, từ bỏ thói quen, tập quán canh tác nhỏ lẻ, phân tán, thụ động; dám nghĩ, dám làm với quy mô lớn và tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh.

Ngư dân Thái Bình khai thác tiềm năng, thế mạnh từ biển

 

Hai là, đẩy mạnh tái cơ cấu, phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại. Thực hiện các hướng đột phá: Xây dựng và nhân rộng các mô hình nông nghiệp có giá trị cao cho các vùng sinh thái theo hướng đột phá về quy mô tích tụ ruộng đất, công nghệ tiên tiến, tổ chức sản xuất; Hình thành được một số mô hình nông nghiệp theo hình thức quản lý công nghiệp, áp dụng phối hợp các công nghệ nông nghiệp hiện đại và máy móc cơ giới hóa đồng bộ, hướng tới nông nghiệp công nghệ cao; Hình thành được khu công nghiệp phục vụ nông nghiệp và chế biến nông sản, cung cấp vật tư, thiết bị cho sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản, góp phần tạo việc làm cho lao động địa phương; Hình thành chương trình du lịch sinh thái trải nghiệm đồng quê gắn với nông nghiệp, nền văn hoá lúa nước Đồng bằng sông Hồng và du lịch tâm linh, tạo đột phá cho du lịch Thái Bình. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên canh, gắn với chế biến, thị trường tiêu thụ và lợi thế của từng vùng. Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, tập trung vào các loại cây, con đặc sản có giá trị kinh tế và chất lượng cao; hiện đại hoá công nghiệp bảo quản, chế biến, nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và giá trị gia tăng của nông sản hàng hóa. Phát triển ngành trồng trọt, hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên canh lúa cao sản, lúa chất lượng cao, vùng chuyên canh rau màu, cây công nghiệp cung cấp nguyên liệu cho chế biến; duy trì diện tích đất lúa đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài; mở rộng diện tích cây vụ Đông; đẩy mạnh tích tụ, tập trung ruộng đất, tăng quy mô sản xuất, áp dụng các giống và quy trình sản xuất mới có năng suất, chất lượng cao; hoàn thiện hệ thống tưới tiêu; đẩy nhanh cơ giới hoá đồng bộ các khâu sản xuất. Phát triển nhanh ngành chăn nuôi theo hình thức trang trại, gia trại với  phương thức công nghiệp, công nghệ hiện đại, an toàn dịch bệnh; tập trung cải tạo và nâng cao chất lượng giống, áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả; tăng cường công tác thú y, phòng chống dịch bệnh; phát triển sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp. Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển diện tích nuôi thủy sản nước lợ sang nuôi tôm công nghệ cao; tổ chức lại việc nuôi ngao ven biển theo hướng đảm bảo an toàn thực phẩm, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào các thị trường thế giới; cơ cấu lại lực lượng đánh bắt gần bờ, phát triển nhanh lực lượng khai thác xa bờ theo hướng đầu tư trang bị phương tiện và công nghệ hiện đại, phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá, khu neo đậu tàu thuyền theo quy hoạch, hệ thống thông tin liên lạc, tìm kiếm cứu nạn.

Ba là, phát triển các ngành công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn. Rà soát điều chỉnh quy hoạch, cơ chế, chính sách, hỗ trợ đầu tư công trình hạ tầng kỹ thuật, cải cách thủ tục đầu tư, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh mẽ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư sản xuất kinh doanh vào các cụm công nghiệp hiện có, khai thác có hiệu quả diện tích đất đai và nguồn lao động ở các địa phương; chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản; ngành nghề sử dụng nhiều lao động; ngành có hàm lượng chất xám cao, hướng đến xuất khẩu. Phát triển nghề, làng nghề theo hướng chuyên môn hóa là chính, kết hợp với đa dạng hóa; tập trung vào sản phẩm dịch vụ đang và có lợi thế so sánh; lan tỏa từ nơi có làng nghề sang nơi chưa có, từ nơi có mật độ tập trung cao sang nơi có mật độ thấp hơn; từng bước hiện đại hóa các làng nghề, nhất là các làng nghề truyền thống; gắn phát triển làng nghề với du lịch làng nghề, bảo tồn bản sắc văn hóa và bảo vệ môi trường. Phát triển mạnh dịch vụ ở nông thôn, chú trọng đầu tư phát triển dịch vụ chuyển giao khoa học công nghệ, nghiên cứu kinh tế xã hội và thông tin phục vụ sản xuất kinh doanh, giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, dịch vụ y tế; dịch vụ thương mại cung cấp vật tư cho sản xuất và hàng tiêu dùng cho nhân dân.

Bốn là, xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hoá, xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại. Giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới đã đạt được; điều chỉnh quy hoạch phát triển nông thôn theo chủ trương tái cơ cấu kinh tế của tỉnh; duy tu bảo dưỡng và tiếp tục nâng cấp công trình hạ tầng kinh tế - xã hội tạo tiền đề cho công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; tập trung phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và đời sống của cư dân nông thôn; cải thiện chất lượng y tế, giáo dục, xây dựng các thiết chế và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thể thao, bài trừ hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội; bảo vệ và cải thiện môi trường nông thôn; khuyến khích, vận động người dân tham gia xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu, đem lại sự chuyển biến tích cực, rõ nét hơn tới từng hộ gia đình và cuộc sống trực tiếp của mỗi người dân sinh sống ở nông thôn.

 

Người dân thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình chăn nuôi bò thương phẩm.

 

Năm là, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách đối với người nghèo; tạo điều kiện về vốn, đào tạo trang bị kiến thức, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của lao động, chuyển giao khoa học kỹ thuật, xúc tiến đầu tư, giải quyết công ăn việc làm ở nông thôn, tăng năng suất, hiệu quả lao động và thu nhập, mức sống cho người dân ở nông thôn. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu và khám chữa bệnh; thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế, dân số, giảm tỷ lệ sinh ở nông thôn. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo ở các địa phương khó khăn. Đẩy mạnh triển khai thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", xây dựng các hương ước, phát huy truyền thống tốt đẹp, tương thân tương ái, tình làng nghĩa xóm, bài trừ các hủ tục, thực hiện nếp sống mới ở nông thôn; xây dựng hệ thống an sinh xã hội ở nông thôn. Rà soát, giảm thiểu các khoản đóng góp có tính chất bắt buộc đối với nông dân. Tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện và thực hiện đầy đủ quy chế dân chủ cơ sở; bảo vệ, cải thiện môi trường sinh thái; đảm bảo an ninh, trật tự an toàn ở nông thôn.

Sáu là, bảo vệ tài nguyên, môi trường, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai. Tuyên truyền, vận động toàn dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường; tập trung đầu tư công trình xử lý rác thải trong khu dân cư, khu công nghiệp, làng nghề ở nông thôn; vận động các hộ nông dân tổ chức sản xuất hữu cơ, xử lý chất thải chăn nuôi, rơm rạ theo phương pháp vi sinh; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư khai thác và quản lý hoạt động xử lý rác thải với công nghệ hiện đại; tăng cường công tác thẩm định đánh giá tác động môi trường, công tác kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất kinh doanh, các trang trại, gia trại về bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm. Nghiên cứu, từng bước chuyển đổi các mô hình sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp theo hướng đưa các giống cây trồng, vật nuôi có khả năng chịu mặn tốt; các giống cây ngắn ngày, chịu được điều kiện thời tiết cực đoan; rà soát, điều chỉnh quy hoạch phòng chống lũ chi tiết và quy hoạch đê điều các sông có đê, quy hoạch hệ thống công trình thủy lợi trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng; tập trung đầu tư hiện đại hóa công trình thủy lợi, phục vụ tưới tiêu chủ động, trước mắt xây dựng một số công trình xử lý cấp bách sạt lở đê điều, cống đập ngăn mặn, một số trạm bơm chống úng, chống hạn; áp dụng các biện pháp tưới tiêu khoa học theo hướng tiết kiệm nước, tăng năng suất cây trồng. Lồng ghép các chương trình dự án, thu hút các nguồn vốn  để đầu tư mở rộng diện tích rừng, tăng khả năng phòng hộ và ứng phó với biến đổi khí hậu.   

Bảy là, đổi mới cơ chế, chính sách và huy động các nguồn lực tham gia phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Về đất đai, thực hiện tốt chính sách bảo vệ đất trồng lúa và hỗ trợ cho người trồng lúa, giữ ổn định 76.000 ha đất trồng lúa theo Quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ; tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ người nông dân khi bị Nhà nước thu hồi đất; nghiên cứu, đề xuất chính sách hỗ trợ, bảo đảm quyền lợi, đời sống của nông dân khi cho doanh nghiệp thuê đất phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung; ban hành chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất, tăng quy mô nông hộ, tạo điều kiện cơ giới hóa sản xuất. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất nông nghiệp (người được giao và thuê đất nông nghiệp); thủ tục công nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất; thủ tục về chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê đất; thủ tục về giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án đầu tư; thủ tục góp giá trị quyền sử dụng đất để hình thành cổ phần, cổ đông của doanh nghiệp. Về tài chính tín dụng, rà soát điều chỉnh và thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn đang triển khai, thực hiện; nghiên cứu bổ sung một số chính sách mới, trọng tâm là chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm; hỗ trợ xây dựng hạ tầng các vùng sản xuất chuyên canh, hàng hóa lớn gắn với chế biến tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích phát triển doanh nghiệp ở nông thôn, phát triển trang trại quy mô lớn công nghệ hiện đại; chính sách hỗ trợ nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ; hỗ trợ xây dựng mô hình, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ để hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Tiếp tục hỗ trợ đầu tư xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng nông thôn theo hướng hiện đại; tăng mức hỗ trợ ngân sách nhà nước các cấp đối với các xã khó khăn, chưa về đích nông thôn mới. Tiếp tục cổ phần hóa, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước; tạo điều kiện thuận lợi để cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, trang trại, hộ kinh doanh cá thể, đảm bảo hoạt động có lãi, từ đó tăng tích lũy nội bộ để tái sản xuất theo chiều sâu; khuyến khích các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả huy động vốn xã hội. Hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô theo hướng đảm bảo cho người dân yên tâm bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh, tạo của cải vật chất cho xã hội. Tiếp tục cải cách hoạt động của các tổ chức kinh doanh tiền tệ, sử dụng tỷ lệ lãi suất linh hoạt, hấp dẫn, nhằm thu hút tiền gửi trong dân, gom nguồn vốn từ nội lực phục vụ cho các nhà sản xuất đầu tư phát triển. Tăng cường hợp tác giữa nhà nước và nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển sản xuất; vận động nhân dân thực hành tiết kiệm, tăng tích lũy, tạo nguồn lực cho phát triển sản xuất.

Tám là, đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách, cải cách thủ tục hành chính về chấp thuận đầu tư, thực hiện đầu tư, thủ tục về đất đai..., cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô, khuyến khích phát triển mạnh doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn; từng bước đưa loại hình kinh tế này là thành phần kinh tế quan trọng và trở thành đầu tầu trong mối liên kết sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở tập trung, tích tụ ruộng đất, xây dựng thương hiệu các sản phẩm chủ lực Tỉnh Thái Bình. Tiếp tục hỗ trợ phát triển kinh tế hộ theo hướng mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến công, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ để tăng năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh; chuyển dịch cơ cấu kinh tế hộ theo hướng tăng nhanh kinh tế trang trại với quy mô lớn, phương thức công nghiệp, hiện đại; giảm số lượng kinh tế hộ nhỏ lẻ, chuyển từ hộ nông nghiệp sang hộ phi nông nghiệp. Nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô dịch vụ của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới. Phát triển mạnh mẽ các loại hình hợp tác, liên kết trong sản xuất kinh doanh, trong đó trọng tâm là liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị giữa Doanh nghiệp - Hợp tác xã - Hộ kinh tế, đảm bảo bền vững và hiệu quả; tăng cường liên kết 4 nhà (nhà doanh nghiệp, nhà nước, nhà khoa học, nông dân), trong đó doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo, nông dân giữ vai trò then chốt, nhà nước tạo hành lang, môi trường pháp lý và các điều kiện thuận lợi cho liên kết, hợp tác.

Chín là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn. Tổ chức hợp tác, liên thông, hợp nhất các cơ sở đào tạo nghề, đồng thời đầu tư cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật hiện đại, nâng cao trình độ năng lực đội ngũ giáo viên; tiếp tục thực hiện chính sách đào tạo nghề và huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp, đóng góp của người lao động cho quỹ đào tạo nghề; phát triển các trung tâm dịch vụ và hỗ trợ phát triển, hoạt động trên nhiều lĩnh vực; phát triển đồng bộ hệ thống giáo dục: Với hệ thống trường phổ thông đảm bảo quy mô và xác lập cơ chế hoạt động hợp lý; đối với trường trung cấp và dạy nghề cần xác định lại chức năng, tránh sự phân tán, tạo ra quy mô đào tạo hợp lý và có thể đầu tư một cách tập trung, nâng cao hiệu quả đào tạo; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trên cơ sở có sự kiểm tra, giám sát của nhà nước về các tiêu chuẩn cơ bản. Hoàn thiện và cập nhật hóa mục tiêu, đổi mới nội dung, giáo trình giảng dạy, gắn đào tạo với nhu cầu của xã hội và nhu cầu của doanh nghiệp, gắn lý luận với thực tiễn, chú ý rèn luyện tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo, tăng cường đào tạo kiến thức quản lý kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường; hiện đại hóa phương pháp giảng dạy, tăng cường tính chủ động của người học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo suốt đời. Tạo thêm nhiều việc làm mới bằng cách phát triển nghề, làng nghề, công nghiệp dịch vụ ở nông thôn; tăng cường xúc tiến giới thiệu việc làm ra ngoài tỉnh và xuất khẩu lao động ra nước ngoài.

Mười là, nghiên cứu, phát triển, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật hiện đại cho các cơ sở nghiên cứu khoa học; đào tạo, đào tạo lại, nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ khoa học; tăng vốn đầu tư của nhà nước, lồng ghép các chương trình dự án cho nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp, chủ trang trại và nông dân tích cực nghiên cứu khoa học và đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đối với nông nghiệp, thực hiện điện khí hóa, hiện đại hóa hệ thống thủy lợi, giải quyết tốt nhu cầu tưới tiêu khoa học cho nông nghiệp; tiếp tục cơ giới hóa đồng bộ các khâu sản xuất; coi trọng việc đưa tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào nông nghiệp, trọng tâm là các giống mới cho năng suất chất lượng cao; xây dựng các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, tổng kết đưa ra diện rộng. Hiện đại hóa các công nghệ truyền thống và các loại hình công nghệ thích hợp để phát triển các làng nghề, hình thành các xí nghiệp nông thôn. Thường xuyên đổi mới, nâng cao trình độ khoa học công nghệ đối với lĩnh vực bảo quản, chế biến nông sản.

Mười một là, chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế. Làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến đến toàn dân những nội dung hiệp định, cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Triển khai xây dựng các thương hiệu nông sản có giá trị về chất lượng, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Nghiên cứu lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh của tỉnh để tìm kiếm thị trường, xây dựng chiến lược, kế hoạch tiêu thụ nông sản, cũng như xây dựng quy hoạch, kế hoạch sản xuất kinh doanh. Tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản, các dự án bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; tiếp nhận khoa học công nghệ của các nước phát triển tiên tiến trên thế giới để hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện giao lưu, du nhập các giá trị văn hóa tiên tiến trên thế giới, làm cho đời sống văn hóa, tinh thần của cư dân nông thôn ngày càng đa dạng, phong phú và văn minh, hiện đại, xóa đi những hủ tục, lạc hậu ở nông thôn.

Mười hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn; phát huy vai trò của Mặt trân Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ tỉnh đến cơ sở đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Chú trọng kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội gắn với bảo vệ môi trường; tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên, môi trường; chỉ đạo rà soát, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện đề án, quy hoạch và các tiêu chí nông thôn mới ở các xã trong tỉnh, trọng tâm là các tiêu chí phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho nông dân, giảm hộ nghèo, xây dựng đời sống văn hoá. Đẩy mạnh cải cách hành chính, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục về đất đai, thủ tục về chấp thuận và thực hiện đầu tư, các thủ tục tiếp cận vốn, hạ tầng điện nước... tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; tăng cường trợ giúp pháp lý, tư vấn quy trình thủ tục đối với tổ chức, cá nhân quan tâm đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, hướng về cơ sở, phục vụ cơ sở. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, hướng vào phục vụ dân, sát dân, vận động nhân dân tích cực phát triển sản xuất, kinh doanh, xoá đói, giảm nghèo và giữ vững các tiêu chí đạt chuẩn xây dựng nông thôn mới; khơi dậy ý chí tự lực, tự cường của nông dân, vươn lên làm giàu cho bản thân và gia đình, góp phần xây dựng nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại.

Theo Thaibinh.org.vn