Đại dịch đã khiến các nền kinh tế trên thế giới phân hóa trầm trọng

Theo The Economist, đại dịch COVID-19 đã giáng xuống nền kinh tế thế giới một cú sốc lớn nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ II. Tình trạng phong tỏa và chi tiêu tiêu dùng sụt giảm dẫn đến sự sụp đổ của thị trường lao động, trong đó gần 500 triệu công việc toàn thời gian đã biến mất gần như chỉ sau một đêm. 

Tác động lâu dài của đại dịch sẽ còn sâu rộng hơn.

 

Thương mại thế giới rung chuyển khi các nhà máy đóng cửa và các quốc gia đóng cửa biên giới. Một thảm họa kinh tế thậm chí còn sâu sắc hơn đã tránh được chỉ nhờ vào những biện pháp can thiệp chưa từng có vào thị trường tài chính của các ngân hàng trung ương, viện trợ của chính phủ cho người lao động và các doanh nghiệp thất bại. 

Theo dự báo của OECD, vào cuối năm tới, nền kinh tế Mỹ sẽ có quy mô như năm 2019 nhưng Trung Quốc sẽ lớn hơn 10%. Châu Âu vẫn sẽ suy yếu dưới mức sản lượng trước đại dịch và có thể kéo dài như vậy trong vài năm.

Quy mô không chỉ ở các khối kinh tế lớn nhất đang phát triển với tốc độ khác nhau. Theo ngân hàng UBS, sự phân bố tỉ lệ tăng trưởng trong quý II năm nay trên 50 nền kinh tế là rộng nhất trong vòng ít nhất 40 năm qua.

Sự khác biệt này là kết quả của sự khác biệt giữa các quốc gia. Quan trọng nhất là sự lây lan của dịch bệnh. Trung Quốc đã ngăn chặn tất cả, trong khi châu Âu và có lẽ sắp tới là Mỹ, đang chiến đấu với làn sóng virus thứ hai tốn kém. 

Nếu tránh được làn sóng COVID-19 thứ 2, GDP toàn cầu sẽ giảm 6% trong năm 2020. Nguồn ảnh: OECD.

 

Trong tuần qua, Paris đã đóng cửa các quán bar và Madrid đã đóng cửa một phần. Trong khi đó, ở Trung Quốc, mọi người hiện có thể chụp ảnh sambuca trong các hộp đêm. 

Một điểm khác biệt nữa là cấu trúc nền kinh tế vốn có từ trước. Việc vận hành các nhà máy trong điều kiện giãn cách xã hội sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc vận hành các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ dựa trên sự tiếp xúc trực tiếp. Sản xuất chiếm tỉ trọng lớn hơn trong nền kinh tế Trung Quốc so với bất kỳ quốc gia lớn nào khác. 

Yếu tố thứ ba là phản ứng của chính sách. Điều này một phần là về quy mô: Mỹ đã áp dụng các chính sách kích thích nhiều hơn châu Âu, bao gồm chi tiêu trị giá 12% GDP và cắt giảm 1,5 điểm phần trăm lãi suất ngắn hạn. 

Tuy nhiên, chính sách cũng bao gồm cách các chính phủ phản ứng với những thay đổi cấu trúc và sự tàn phá sáng tạo mà đại dịch đang gây ra. Rõ ràng, những điều chỉnh này sẽ rất lớn. Đại dịch sẽ khiến các nền kinh tế ít toàn cầu hóa hơn, số hóa nhiều hơn và kém bình đẳng hơn. 

Khi các nền kinh tế cắt giảm rủi ro trong chuỗi cung ứng và khai thác tự động hóa, các nhà sản xuất sẽ đưa sản xuất về gần nhà hơn. Ở Mỹ, tình trạng mất việc làm thường xuyên đang gia tăng ngay cả khi tỉ lệ thất nghiệp giảm xuống.

Khi hoạt động trực tuyến nhiều hơn, hoạt động kinh doanh sẽ bị chi phối nhiều hơn bởi các công ty có tài sản trí tuệ tiên tiến nhất và kho dữ liệu lớn nhất. Sự bùng nổ của cổ phiếu công nghệ năm nay sẽ là những dấu hiệu về tương lai sắp tới, cũng như sự bùng nổ kỹ thuật số trong ngành ngân hàng.

Lãi suất thực tế thấp sẽ giữ giá tài sản cao ngay cả khi các nền kinh tế vẫn yếu. Điều này sẽ mở rộng khoảng cách giữa Phố Wall và các nền kinh tế chính vốn xuất hiện sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và đã trở nên tồi tệ hơn trong năm nay. 

Thách thức đối với các chính phủ sẽ là thích ứng với tất cả những thay đổi này trong khi vẫn duy trì sự đồng thuận phổ biến đối với các chính sách của họ và đối với thị trường tự do.

Virus Corona đã bộc lộ những lỗ hổng lâu dài hơn trong bộ máy kinh tế của Trung Quốc. Nó không có giá trị về mạng lưới an toàn. Trong năm nay, Trung Quốc phải tập trung kích thích vào các doanh nghiệp và đầu tư cơ sở hạ tầng hơn là nâng cao thu nhập hộ gia đình. 

Về lâu dài, hệ thống giám sát và kiểm soát nhà nước của Trung Quốc, vốn có khả năng xảy ra các vụ phong tỏa tàn bạo, có khả năng cản trở quá trình ra quyết định, việc di chuyển tự do rộng rãi của người dân, cũng như ý tưởng duy trì sự đổi mới và nâng cao mức sống.

Châu Âu có khả năng bị tụt hậu. Tại 5 nền kinh tế lớn nhất của nó, 5% lực lượng lao động vẫn làm việc trong các chương trình làm việc ngắn hạn, trong đó chính phủ trả tiền cho họ để chờ đợi việc làm trở lại. Ở Anh, tỉ lệ này cao gấp đôi. 

Nếu châu Âu coi đại dịch là một lý do để nuôi dưỡng mối quan hệ ấm cúng giữa chính phủ và các doanh nghiệp đương nhiệm, thì sự suy giảm tương đối trong dài hạn của nó có thể tăng nhanh.

Kinh tế Mỹ là dấu chấm hỏi lớn, khi phần lớn thời gian của năm, sự cân bằng chính sách gần như đúng đắn. Nó cung cấp một mạng lưới an toàn rộng rãi hơn cho những người thất nghiệp và một sự kích thích lớn hơn những gì có thể mong đợi ở quê hương của chủ nghĩa tư bản. Kết quả là, không giống như châu Âu, Mỹ đã tạo ra nhiều việc làm mới.

Cho đến khi kết thúc cuộc bầu cử, Tổng thống Donald Trump dường như từ bỏ các cuộc đàm phán về việc gia hạn các biện pháp kích thích, khiến nền kinh tế có thể rơi vào một vách đá tài khóa. Nguồn ảnh: The Economist.

COVID-19 đang áp đặt một thực tế kinh tế mới. Mọi quốc gia sẽ được kêu gọi thích ứng, nhưng Mỹ phải đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn. Nếu muốn lãnh đạo thế giới hậu đại dịch, chính phủ nước này sẽ phải thiết lập lại chính trị của mình. 

Theo nhipcaudautu.vn