Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết Số 55-NQ/TW : Đột phá cho phát triển năng lượng

Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết (NQ) về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Để có Nghị quyết này, Ban Kinh tế Trung ương đóng vai trò quan trọng: là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2007 của Bộ Chính trị khoá IX về "Định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050".

Ban Chỉ đạo Đề án đã thành lập Tổ Biên tập, chỉ đạo tiến hành tổng kết và xây dựng Đề án. Dự thảo Đề án đã được nghiên cứu, biên tập, tu chỉnh nhiều lần trên cơ sở các báo cáo tổng kết và chuyên đề nghiên cứu của 10 bộ, ngành Trung ương, 28 địa phương, 07 hiệp hội và các doanh nghiệp năng lượng lớn, tham khảo các chính sách, chiến lược phát triển năng lượng của Nhật Bản, Liên minh Châu Âu và nhiều nước trên thế giới, các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế.

Các kết quả nổi bật sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW

Sau khi Nghị quyết 18-NQ/TW được ban hành, các cấp uỷ Đảng tại nhiều bộ, ngành Trung ương và các tỉnh, thành trực thuộc Trung ương đã tích cực tổ chức quán triệt và triển khai khai thực hiện. Công tác chỉ đạo, điều hành luôn bám sát các chủ trương nêu trong Nghị quyết. Đã dần hình thành nhận thức đầy đủ hơn về vai trò, vị trí của ngành năng lượng cũng như các nội dung chính sách, giải pháp phát triển ngành.Công tác thể chế hoá, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về năng lượng được triển khai khá kịp thời. Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành, sửa đổi 06 luật, 04 nghị quyết. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ đã ban hành 562 văn bản quy phạm pháp luật; ký kết 17 điều ước, văn bản thoả thuận hợp tác quốc tế trong lĩnh vực năng lượng; phê duyệt "Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050", nhiều quy hoạch, chương trình liên quan. Các địa phương đã xây dựng nhiều chương trình, kế hoạch, tổ chức thực hiện.

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết, ngành năng lượng nước ta đã có bước phát triển mạnh, tương đối đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực và phân ngành năng lượng, phù hợp với các định hướng đề ra; về cơ bản, đã bám sát thực hiện 06 nội dung chính trong mục tiêu tổng quát, đạt 8/11 mục tiêu cụ thể đến năm 2010 và ước đạt đến năm 2020.

Cung cấp năng lượng cơ bản đáp ứng đủ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với chất lượng ngày càng được cải thiện. Trong giai đoạn 2007-2017, tổng cung cấp năng lượng sơ cấp trong nước liên tục tăng trưởng, bình quân đạt 4,64%/năm, vượt mục tiêu kế hoạch cho năm 2010 và đạt khoảng 72% mục tiêu kế hoạch đến năm 2020. Trong đó, tổng công suất các nguồn điện tăng 3,36 lần, tổng sản lượng điện tăng 2,88 lần. Các chỉ tiêu về độ tin cậy cung cấp điện theo chuẩn quốc tế đã được cải thiện tích cực.  Đã tích cực thực hiện mục tiêu đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò, khai thác than và dầu khí trong và ngoài nước. Công nghiệp khai thác dầu khí và lọc - hoá dầu phát triển mạnh; sản lượng khai thác dầu khí đạt trung bình 28,07 triệu TOE/năm. Công suất lọc dầu đạt 16,5 triệu tấn, đạt khoảng 66% mục tiêu đề ra cho năm 2020; khả năng dự trữ xăng dầu đạt 63 ngày vượt mục tiêu tới năm 2020. Sản lượng khai thác than thương phẩm đạt trung bình 41,87 triệu tấn/năm; đã đầu tư xây dựng nhiều dự án mỏ than có công suất lớn (lộ thiên từ 1,5 - 4,5 triệu tấn/năm, hầm lò từ 1,0 - 3,5 triệu tấn/năm).  Thủy điện đã phát triển mạnh, năm 2017 sản lượng tăng khoảng 3,5 lần so với năm 2007. Năng lượng gió, năng lượng mặt trời được chú trọng và đã có bước phát triển vượt bậc trong những năm gần đây; năm 2019, đạt tổng công suất lắp đặt khoảng 5000MW, tương ứng khoảng 10% tổng công suất lắp đặt của hệ thống.  Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo được nhân dân và quốc tế đánh giá cao. Đến hết năm 2017, các mục tiêu về tiếp cận điện năng đến năm 2020 đã hoàn thành với 99,98% số xã và 98,83% số hộ dân nông thôn trong cả nước có điện, 12 huyện đảo đã có điện lưới và điện tại chỗ.

Tiêu thụ năng lượng gia tăng đáng kể, cơ cấu tiêu thụ năng lượng chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá; việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được quan tâm. Đã tích cực thực hiện chuyển đổi ngành năng lượng sang hoạt động theo cơ chế thị trường; huy động nguồn lực lớn cho đầu tư phát triển ngành năng lượng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, nòng cốt là các doanh nghiệp Nhà nước. Ngành năng lượng trở thành ngành kinh tế năng động, đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương và trong cả đất nước, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, yếu kém: Mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đối mặt với nhiều thách thức; các nguồn cung trong nước không đủ đáp ứng yêu cầu dẫn đến phải nhập khẩu năng lượng ngày càng lớn. Hiệu quả khai thác, sử dụng năng lượng còn thấp. Cơ sở hạ tầng ngành năng lượng còn nhiều bất cập; trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực thuộc ngành năng lượng chậm được nâng cao; chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế. Thị trường năng lượng cạnh tranh phát triển chưa đồng bộ, thiếu liên thông giữa các phân ngành năng lượng. Nhiều dự án năng lượng trong nước do Nhà nước đầu tư còn thua lỗ, đầu tư ra nước ngoài còn nhiều hạn chế. Công tác bảo vệ môi trường trong ngành năng lượng có nơi chưa được quan tâm đúng mức, gây bức xúc xã hội.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu:

Nghị quyết 55 ra đời có tính thực tiễn cao

Bối cảnh thế giới hiện nay là hòa bình, hợp tác, liên kết phát triển bền vững vẫn là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế. Nhu cầu tiêu thụ năng lượng trên thế giới vẫn tiếp tục gia tăng dẫn đến sự cạnh tranh các nguồn nhiên liệu nhập khẩu. Năng lượng trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị của các nước trên thế giới. Năng lượng tái tạo, năng lượng xanh là xu thế lớn, phát triển rõ nét trong thời gian tới. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn biến nhanh, tác động sâu rộng, đa chiều đến kinh tế, xã hội của mọi quốc gia. Công nghệ số sẽ làm thay đổi phương thức quản lý Nhà nước, mô hình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng và đời sống văn hóa, xã hội, trong đó có sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng năng lượng.

Trước tình hình đó, quan điểm chỉ đạo của Đảng là:  Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, đồng thời là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Ưu tiên phát triển năng lượng nhanh và bền vững, đi trước một bước, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển năng lượng quốc gia phải phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xu thế hội nhập quốc tế; nhanh chóng xây dựng thị trường năng lượng đồng bộ, cạnh tranh, minh bạch, đa dạng hoá hình thức sở hữu và phương thức kinh doanh; áp dụng giá thị trường đối với mọi loại hình năng lượng. Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân tham gia phát triển năng lượng; kiên quyết loại bỏ mọi biểu hiện bao cấp, độc quyền, cạnh tranh không bình đẳng, thiếu minh bạch trong ngành năng lượng. Phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hoá các loại hình năng lượng

10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp cho định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045:

 Phát triển các nguồn cung năng lượng sơ cấp theo hướng tăng cường khả năng tự chủ, đa dạng hoá, bảo đảm tính hiệu quả, tin cậy và bền vững. Phát triển nhanh và bền vững ngành điện đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Cơ cấu lại các ngành và khu vực tiêu thụ năng lượng song song với thực hiện chính sách về sử dụng năng lượng sạch, tiết kiệm và hiệu quả. Phát triển hạ tầng năng lượng bền vững, kết nối khu vực; nâng cao nội lực ngành công nghiệp chế tạo, dịch vụ phục vụ ngành năng lượng. Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng; khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia xã hội hoá phát triển năng lượng. Đổi mới cơ chế, chính sách, phát triển thị trường năng lượng đồng bộ, liên thông, hiện đại và hiệu quả, phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển khoa học - công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành năng lượng. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế; tích cực, chủ động xây dựng các đối tác chiến lược để thực hiện mục tiêu nhập khẩu năng lượng trong dài hạn và đầu tư tài nguyên năng lượng ở nước ngoài. Thực thi chính sách bảo vệ môi trường ngành năng lượng gắn với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong phát triển ngành năng lượng.

Linh Thùy