Một số giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị
Đẩy mạnh việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của Nhà nước ta chính là để bảo đảm công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí có hiệu lực, hiệu quả, ngăn ngừa nguy cơ tham nhũng cao ở lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai nói chung và ở đô thị nói riêng. Bài viết phân tích những kết quả đạt được cũng như chỉ ra hạn chế, nguyên nhân của chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị ở nước ta từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực; trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị trong giai đoạn tới.
 
 
Kết quả ban hành chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị ở nước ta từ khi có Luật Đất đai năm 2013
 
Trước khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, Chính phủ đã chủ động tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành kịp thời các chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Các chủ trương, chính sách này được thể hiện tập trung trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và được ghi nhận tại Kết luận số 36-KL/TW ngày 06/9/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW. Điều này cũng đặt ra yêu cầu cụ thể trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý (QHQL) và sử dụng đất đai (SDĐĐ), nhất là đất đai tại đô thị.
 
Để thể chế các quan điểm, đường lối của Đảng, Quốc hội đã ban hành Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014); Chính phủ đã ban hành 13 nghị định (gồm 10 nghị định ban hành mới và 3 nghị định sửa đổi, bổ sung các nghị định); các bộ, ngành đã ban hành 48 thông tư, thông tư liên tịch, trong đó Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì ban hành 33 thông tư1. Chính phủ đã chỉ đạo các địa phương chủ động rà soát các điều, khoản được giao trong Luật và các nghị định để quy định chi tiết thi hành. Đến nay, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành hơn 1.141 văn bản, quy định cụ thể đối với 41 nội dung theo phân cấp. Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản thi hành đã thể chế khá đầy đủ các quan điểm, định hướng của Nghị quyết số 19-NQ/TW2.
 
Theo đó, đã khắc phục được những hạn chế, vướng mắc về thất thoát, lãng phí; bảo đảm nguyên tắc thị trường, đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế trong tình hình mới; làm tăng nguồn lực tài chính từ phát triển đất đai tại đô thị; đưa công tác quản đất đai tại đô thị đi vào nền nếp, công khai, minh bạch và dân chủ hơn. Các nghị định, thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm kịp thời có hiệu lực ngay khi Luật Đất đai có hiệu lực thi hành.
 
Việc ban hành đồng thời các văn bản hướng dẫn thi hành Luật có hiệu lực cùng với Luật Đất đai năm 2013 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng, được xã hội ghi nhận và đánh giá cao trong việc chuẩn bị, tổ chức thi hành Luật Đất đai. Việc phân cấp cho các địa phương quy định cụ thể một số nội dung đã làm cho chính sách đất đai được ban hành phù hợp hơn với thực tiễn, góp phần đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp, giảm các khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai.
 
Từ định hướng chỉ đạo tại Nghị quyết số 19-NQ/TW, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành Luật Xây dựng năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1210/2016/ UBTVQH13 ngày 25/5/2016 về phân loại đô thị; theo đó, Bộ Xây dựng trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các nghị định, quyết định, thông tư để triển khai thực hiện các luật và nghị quyết (gồm 6 nghị định, 1 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 18 thông tư, 2 quy chuẩn, trong đó có 17/32 văn bản được ban hành trước thời điểm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành)3.
 
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch xây dựng, quản lý phát triển đô thị từng bước được hoàn thiện nhằm tạo ra khuôn khổ pháp luật đồng bộ trong công tác quy hoạch xây dựng, quản lý phát triển đô thị, nhà ở để quản lý, SDĐĐ tại đô thị một cách tiết kiệm, hiệu quả.
 
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về QHQL và SDĐĐ tại đô thị, trung tâm là Luật Đất đai năm 2013, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017… đã thể chế cơ bản đầy đủ các quan điểm, định hướng chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII và các nghị quyết của Bộ Chính trị và Hiến pháp năm 2013; tạo ra hành lang pháp lý đồng bộ, chặt chẽ và khả thi cho việc quy hoạch, đầu tư, khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả đất đai tại đô thị. Các văn bản pháp luật nêu trên về cơ bản đã bao quát toàn diện các vấn đề liên quan đến công tác QHQL, SDĐĐ tại đô thị và cơ bản đã thể chế đầy đủ các nhiệm vụ được giao tại văn bản, văn kiện, nghị quyết… của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, đáp ứng yêu cầu thực tế4.
 
Những hạn chế và nguyên nhân của chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị
 
Thứ nhất, hiện nay, một số chủ trương, chính sách của Đảng có tính chất định hướng lâu dài, có tính chiến lược nhưng chưa được thể chế hóa kịp thời do việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa đầy đủ, đặc biệt như: vấn đề kinh tế, tài chính đất đai; định giá đất theo cơ chế thị trường; quy hoạch sử dụng đất; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai; giải quyết các vấn đề phức tạp, có tính lịch sử qua các thời kỳ (đất nông, lâm trường, công ty nông, lâm nghiệp, đất quốc phòng kết hợp làm kinh tế). Thực tiễn cũng như yêu cầu hội nhập quốc tế đã phát sinh vấn đề mới nhưng cơ chế, chính sách hiện hành chưa có quy định đầy đủ để kịp thời điều chỉnh, như: chính sách sử dụng đất cho người nước ngoài,…
 
Thứ hai, trong quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật khác có liên quan về phạm vi điều chỉnh và nội dung chưa thống nhất, thiếu đồng bộ, như: chưa có sự thống nhất giữa quy định của Luật Đất đai, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014 về chủ thể sử dụng đất5. Quy định về đấu thầu dự án có sử dụng đất, đấu giá quyền sử dụng đất, chỉ định chủ đầu tư giữa Luật Đất đai, Luật Đấu thầu năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 chưa thống nhất6. Thẩm quyền chấp thuận sự cần thiết phải thu hồi đất và thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định dự án đầu tư giữa Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đầu tư năm 2014 chưa thống nhất7.
 
Thứ ba, chưa có sự đồng bộ giữa quy định gia hạn tiến độ sử dụng đất; việc xử lý vấn đề đất đai, tài sản gắn liền trong trường hợp dự án bị chấm dứt hoạt động với đất theo quy định tại Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 46, 48 Luật Đầu tư năm 2014. Chưa có sự thống nhất và rõ ràng giữa pháp luật về đất đai, pháp luật về kinh doanh bất động sản và pháp luật về đầu tư liên quan đến việc chuyển quyền sử dụng đất khi chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư. Còn có sự chồng lấn, không thống nhất trong quy định về thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư xây dựng khu đô thị giữa Luật Đầu tư năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014, nhất là mối quan hệ giữa các quy hoạch và các cấp quy hoạch thiếu khả thi, đồng bộ, thống nhất, tạo ra độ trễ làm chậm tiến độ lập, phê duyệt quy hoạch.
 
Thứ tư, các văn bản quy định chi tiết thi hành các luật liên quan đến quản lý đất đai thuộc thẩm quyền ban hành của địa phương còn chưa được ban hành đầy đủ, kịp thời. Văn bản quy phạm pháp luật quy định về QHQL và SDĐĐ còn chưa được rà soát, hệ thống hóa thường xuyên cập nhật. Các quy định về biện pháp, chế tài xử lý vi phạm pháp luật chưa đầy đủ, thiếu quy định về trách nhiệm, hành chính, hình sự để răn đe, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật.
 
Những hạn chế, vướng mắc nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, cụ thể: một số vấn đề về lý luận quản lý, SDĐĐ gắn với quan hệ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được nghiên cứu căn cơ, thấu đáo để định hình khi xây dựng chính sách, pháp luật. Sự phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và các cơ quan nghiên cứu trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật ở cấp trung ương và địa phương chưa được chặt chẽ. Việc tổ chức lấy ý kiến góp ý phản biện của người dân, việc đánh giá tác động và thẩm định chính sách, pháp luật trước khi ban hành đôi lúc còn hình thức, chưa hiệu quả, đầu tư cho công tác này còn hạn chế. Chưa có quy định cụ thể về chính sách đất đai giữa các dự án đầu tư sản xuất – kinh doanh, dự án công nghệ cao với các dự án đầu tư phát triển bất động sản để thu hút đầu tư phát triển sản xuất…
 
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị trong thời gian tới
 
Để phát huy kết quả, khắc phục hạn chế, vướng mắc của chính sách, pháp luật về QHQL và SDĐĐ tại đô thị ở nước ta từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay, trong thới gian tới, cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt những nhiệm vụ và giải pháp sau đây:
 
Một là, tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai. Trong đó, cần tổng kết, đánh giá việc thực hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013. Việc sửa đổi, bổ sung Luật này phải khắc phục được các vướng mắc, bất cập, bảo đảm sự thống nhất giữa các luật có liên quan; trường hợp các luật khác có quy định về đất đai thì phải thống nhất với Luật Đất đai; đổi mới chính sách về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, phương pháp xác định giá đất cụ thể theo hướng hiệu quả, bền vững.
 
Cần hoàn thiện các phương pháp xác định giá đất bảo đảm khách quan, minh bạch, phù hợp với giá thị trường; giá đất được tính đúng, tính đủ các giá trị tăng thêm từ các yếu tố lợi thế, trong đó có lợi thế về vị trí địa lý, lợi thế do quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất, đầu tư kết cấu hạ tầng. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các nghị định và thông tư quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành. Cần rà soát, đề xuất sửa đổi Luật Nhà ở và các luật khác có liên quan đến quản lý, sử dụng đất đô thị theo chương trình xây dựng luật của Quốc hội, đồng thời rà soát, sửa đổi, bổ sung các nghị định, thông tư liên quan đến việc thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, mặt nước để bảo đảm thống nhất với pháp luật về đất đai và pháp luật về ngân sách nhà nước.
 
Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất nội dung chính sách về chế độ quản lý, sử dụng đất quốc phòng trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai. Trong đó, cần xây dựng nghị định của Chính phủ để tháo gỡ các vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng bảo đảm hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội; sớm giải quyết vấn đề đất quốc phòng ở các doanh nghiệp quân đội cổ phần hóa, thoái vốn, quản lý, sử dụng nguồn thu từ đất đai do Bộ Quốc phòng quản lý.
 
Hai là, đối với công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy hoạch đô thị. Tiếp tục rà soát, tổ chức lập quy hoạch sử dụng đất quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 và kế hoạch sử dụng đất quốc gia giai đoạn 2021 – 2025 theo quy định của pháp luật về quy hoạch và pháp luật về đất đai. Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp theo quy định của Luật Quy hoạch, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật liên quan đến quy hoạch. Trong đó, cần có sự đánh giá cụ thể các dự án du lịch có yếu tố tín ngưỡng, tâm linh để đề xuất nhu cầu sử dụng đất trong quá trình triển khai lập quy hoạch tỉnh và lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện theo nguyên tắc sử dụng đất tiết kiệm, tránh lãng phí tài nguyên đất, bảo đảm hài hòa hiệu quả kinh tế – xã hội với yếu tố tín ngưỡng, tâm linh của người dân và đúng quy định pháp luật.
 
Tổ chức lập quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050; hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về quy hoạch xây dựng, đô thị bảo đảm thực hiện đồng bộ, thống nhất theo quy định của Luật Quy hoạch phối hợp với các địa phương thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật liên quan đến quy hoạch đô thị để kịp thời xử lý và chấn chỉnh.
 
Cụ thể, cần triển khai lập đồng bộ các loại quy hoạch đô thị, khẩn trương lập các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết theo quy định; lập kế hoạch đầu tư và đầu tư đồng bộ giữa hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội với phát triển nhà ở, công trình thương mại dịch vụ và công trình khác theo quy hoạch được duyệt; rà soát các quy hoạch, kế hoạch SDĐĐ đã quá thời hạn thực hiện, có biện pháp xử lý dứt điểm để bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất.
 
Bên cạnh đó, cần tăng cường thông tin, bảo đảm tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận thông tin trong QHQL và SDĐĐ tại đô thị; đăng tải hồ sơ điều chỉnh quy hoạch đô thị trên trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền thẩm định để xin ý kiến cộng đồng dân cư trước khi thẩm định hoặc phê duyệt. Cơ quan có trách nhiệm lập quy hoạch có trách nhiệm công bố, công khai ý kiến đóng góp và việc tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp này. Khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân, tổ chức xã hội – nghề nghiệp tham gia phản biện xã hội đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về QHQL và SDĐĐ.
 
Ba là, trong công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Để triển khai thực có hiệu quả, cần tổ chức thực hiện việc giao đất, cho thuê đất công khai, minh bạch cho các đối tượng đáp ứng các điều kiện quy định trong pháp luật về đất đai. Thực hiện nghiêm việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội thông qua phương thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; có biện pháp ngăn chặn tình trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép. Kiểm soát chặt chẽ và công khai, minh bạch việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, hoạt động sản xuất và đời sống của người có đất thu hồi.
 
Bốn là, định giá đất, khai thác nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế – xã hội. Cần tổ chức nghiên cứu, đề xuất việc đổi mới chính sách tài chính về đất đai và giá đất theo hướng hiệu quả, bền vững. Tổ chức kiện toàn và phát huy vai trò của Tổ chức phát triển quỹ đất và Quỹ Phát triển đất trong việc bồi thường, giải phóng mặt bằng, quản lý, khai thác và tạo quỹ đất; bố trí hợp lý ngân sách địa phương và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác cho Quỹ Phát triển đất; bố trí quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội, giải quyết nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập thấp.
 
Đồng thời, có biện pháp tháo gỡ vướng mắc, xác định nguồn lực để đẩy mạnh thực hiện lộ trình di dời trụ sở các bộ, ngành, cơ sở giáo dục đào tạo, bệnh viện, cơ sở công nghiệp, sản xuất,… ra ngoài trung tâm các đô thị theo phương án được phê duyệt. Triển khai cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo quy định. Việc xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Việc chuyển mục đích sử dụng đất, thực hiện sắp xếp, xử lý nhà, đất của các doanh nghiệp cổ phần hóa phải tuân thủ quy hoạch, bảo đảm điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định.
 
Năm là, xác định địa giới hành chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Cần giải quyết theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền để giải quyết những vấn đề chưa thống nhất liên quan đến địa giới hành chính giữa các địa phương. Trường hợp không thỏa thuận được phương án giải quyết chung thì lập hồ sơ đề nghị Bộ Nội vụ báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.
 
Bố trí dự toán ngân sách tối thiểu từ 10% nguồn thu ngân sách địa phương từ đất đai để đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai và phát triển đô thị, đặc biệt là cơ sở dữ liệu về quy hoạch, giá đất và hệ thống hồ sơ địa chính hiện đại. Phấn đấu hoàn thiện và vận hành cơ sở dữ liệu đất đai tại các đô thị trong cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Đối với các địa phương còn khó khăn về ngân sách, để hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ về phương án hỗ trợ thực hiện theo quy định.
 
Sáu là, về kiện toàn bộ máy, tổ chức. Tiếp tục rà soát và nâng cao trình độ, năng lực bộ máy làm công tác quản lý đất đai, đô thị; phát huy vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành trong quản lý tài nguyên đất, thanh tra việc quản lý, SDĐĐ tại đô thị. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai, gắn với chương trình xây dựng nền hành chính hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đô thị.
 
Bảy là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm QHQL và SDĐĐ. Cụ thể, cần tiến hành thanh tra các dự án, công trình có dấu hiệu vi phạm pháp luật về QHQL và SDĐĐ tại đô thị và thanh tra việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại khu vực đô thị. Rà soát, đánh giá thực trạng người Việt Nam đứng tên thay cho người nước ngoài để mua nhà, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê đất trái pháp luật để có cơ sở đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
 
Đẩy nhanh công tác điều tra các vụ án về quản lý, SDĐĐ tại đô thị; chấn chỉnh các vi phạm trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt; kiên quyết thu hồi theo quy định của pháp luật đối với những dự án đất không đưa vào sử dụng, dự án triển khai chậm tiến độ, dự án đã bị chấm dứt chủ trương đầu tư, dự án sử dụng đất sai mục đích, vi phạm pháp luật về đất đai, quy hoạch đô thị, xây dựng và bảo vệ môi trường.
 
Tổ chức thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và quy hoạch đô thị; xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, các ngành để xảy ra sai phạm trong quản lý, SDĐĐ tại đô thị, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; khắc phục vi phạm trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch đô thị, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân để xảy ra vi phạm và có biện pháp xử lý cụ thể; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất để phát triển đô thị bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, đồng bộ giữa pháp luật về đất đai và pháp luật về đô thị, bảo đảm quyền lợi của người có đất thu hồi; kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch đô thị để hạn chế các vụ việc khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong dư luận xã hội8.
 
Chú thích:
1, 2, 3, 4. Báo cáo số 143/BC-CP ngày 18/4/2019 của Chính phủ việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến hết năm 2018.
5. Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 chưa quy định người sử dụng đất là tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, trong khi Luật Nhà ở năm 2014 cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở; Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư năm 2014 quy định là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…
6. Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 quy định về các trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất và không đấu giá quyền sử dụng đất; Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 quy định về việc đấu thầu dự án có sử dụng đất.
7. Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 quy định căn cứ vào thẩm quyết quyết định đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ để xác định sự cần thiết phải thu hồi đất; tuy nhiên, theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014 thì ngoài Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ còn có thẩm quyền của Chính phủ và Bộ trưởng.
8. Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 06/12/2019 của Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 82/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của Quốc hội về tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai tại đô thị.
 
PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Theo Quanlynhanuoc.vn