Tổng quan kinh tế thế giới và một số nền kinh tế lớn tháng 6/2021 của OECD: “Vẫn còn nhiều luồng gió thổi ngược"
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) vừa nâng dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2021, nhưng đồng thời đưa ra cảnh báo rằng "vẫn còn nhiều luồng gió thổi ngược", bởi vì việc thiếu vác-xin chống COVID-19 tại các nước kinh tế đang phát triển sẽ biến thế giới trở nên dễ bị tổn thương đối với những lựa chọn khác nhau. Trong năm 2021, theo báo cáo của tổ chức này, tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ đạt mức 5,8%, cao hơn 0,2% so với dự báo 5,6% từng đưa ra trước đó.
 
Tăng trưởng được kỳ vọng sau cuộc suy thoái quy mô toàn cầu hồi năm ngoái do những biện pháp hạn chế đi lại được áp dụng bởi các chính phủ nhằm ngăn chặn sự lây lan của COVID-19. "Khi tình hình dịu bớt, chúng tôi nhận thấy triển vọng kinh tế được cải thiện, nhưng rất không đồng đều", lãnh đạo OECD Laurence Boone chia sẻ trong báo cáo của tổ chức này.
 
Sự phục hồi tạm thời diễn ra không cân bằng: Mỹ và Trung Quốc đang trở lại quỹ đạo trước đại dịch và tốc độ tăng trưởng được dự báo sẽ cao hơn so với các nền kinh tế lớn khác, như Nhật Bản và Đức. OECD hoan nghênh những phản ứng kịp thời của chính phủ các nước nhằm hỗ trợ kinh tế.
 
"Chưa bao giờ trong thời kỳ khủng hoảng, sự hỗ trợ về chính sách - dù đó là lĩnh vực y tế với tốc độ nghiên cứu và sản xuất vác-xin kỷ lục hoặc lĩnh vực tiền tệ, thuế quan hay tài chính - lại nhanh và hiệu quả như vậy. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều luồng gió thổi ngược", OECD nhấn mạnh. Người đứng đầu cơ quan này cho biết rằng "điều rất đáng báo động" đó là việc các nước với nền kinh tế đang phát triển và những quốc gia thu nhập thấp không tiếp nhận đủ số lượng vác-xin cần thiết. "Điều đó sẽ đẩy các nước này vào mối đe doạ to lớn, bởi vì họ có ít dư địa hơn những quốc gia phát triển để triển khai chính sách kinh tế", bà Boone lưu ý.
 
Lời cảnh báo đã được đưa ra sau khi xuất hiện những biến thể mới của vi-rút corona gây lo ngại trên toàn cầu, còn Ấn Độ đang phải đương đầu với chủng mới, khiến các trường hợp lây nhiễm và tử vong bùng phát. "Tạm thời, khi đa số người dân toàn cầu chưa được tiêm chủng, tất cả chúng ta vẫn dễ tổn thương trước sự xuất hiện của những biến thể mới", bà Boome cho biết.
 
Theo lời lãnh đạo OECD, những hạn chế mới sẽ làm suy giảm niềm tin, trong khi các công ty, mà phải gánh những khoản nợ lớn hơn trước đại dịch, có thể bị phá sản. Thêm một rủi ro đối với GDP toàn cầu đó là cách mà thị trường tài chính toàn cầu phản ứng trước những lo ngại về lạm phát. Các chuyên gia phân tích bày tỏ sự e ngại rằng, lạm phát tăng sẽ khiến cho các ngân hàng trung ương từ bỏ chính sách tiền tệ nới lỏng của mình để ngăn chặn kinh tế phát triển quá nóng.
 
OECD tuyên bố rằng giá cả tăng chỉ mang tính chất tạm thời và liên quan tới sự hồi phục kinh tế. Theo quan điểm của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế, sự lo ngại lớn nhất chính là rủi ro đến từ việc các thị trường tài chính không thể ứng phó được với tình trạng tăng giá tạm thời và phải điều chỉnh giá tương đối, điều khiến cho lãi suất thị trường tăng và biến động.
 
Kinh tế Mỹ
 
Kinh tế Mỹ đã tăng 6,4% trong quý I/2021 và tạo nền tảng vững chắc để có thể trở thành năm kinh tế tăng trưởng mạnh nhất trong vòng bảy thập niên gần đây. Theo Bộ Thương mại Mỹ, tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa, tổng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong nước không thay đổi so với hai đánh giá trước đây, và cao hơn so với mức 4,3% của quý trước. Dự báo tăng trưởng GDP trong quý II sẽ đạt mức 12% và cả năm 2021 là vào khoảng 7,5%. Đây sẽ là mức tăng tốt nhất kể từ năm 1951.
Chi tiêu tiêu dùng, mà chiếm tới hơn 2/3 hoạt động kinh tế, tăng với tốc độ đáng kinh ngạc là 11,4% trong 3 tháng đầu năm 2021. Đầu tư vào hoạt động kinh doanh tăng tương đương 11,7%, cao hơn mức đánh giá trước đó là 10,8%, trong khi chi tiêu chính phủ tăng 5,7%, thấp hơn mức đánh giá của tháng trước (5,8%). Thâm hụt thương mại trong quý I/2021 đã lấy đi 1,5 điểm phần trăm (đpt) của tăng trưởng, bởi vì kinh tế Mỹ đang phục hồi, kéo theo nhập khẩu gia tăng, trong khi các doanh nghiệp của Mỹ vất vả chiến đấu với cầu xuất khẩu yếu.
 
Hình 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ, %
 
 
Nguồn: Bộ Thương mại Mỹ
 
Những chỉ số khác của kinh tế Mỹ
 
Theo thông tin của Cục Dự trữ liên bang (FED) Mỹ, trong tháng 5/2021 sản xuất công nghiệp tăng 0,8% do hoạt động sản xuất xe hơi tăng đáng kể. Căn cứ nghiên cứu của tờ báo The Wall Street Journal, mức tăng này cao hơn kỳ vọng của Phố Wall (0,5%). Sản xuất công nghiệp trong tháng 4/2021 từng sụt giảm xuống mức 0,1% so với mức đánh giá trước đó là 0,5%. Sản xuất xe hơi và phụ tùng bật tăng 6,7% trong tháng 5, sau khi sụt giảm 5,7% vào tháng trước.
 
Sản xuất tại các nhà máy tăng 0,9% trong tháng 5 so với mức giảm 0,1% của tháng 4/2021. Loại trừ mặt hàng xe hơi, tăng trưởng sản xuất đạt mức 0,5%. Tổng số lượng xe hơi được lắp ráp tăng khoảng 1 triệu chiếc, lên thành 9,9 chiếc cả năm, nhưng tính chung 6 tháng cuối năm 2020, con số này vẫn thấp hơn mức trung bình khoảng 1 triệu chiếc. Ngành khai khoáng, bao gồm dầu mỏ và khí đốt, tăng 1,2% sau khi có sự sụt giảm 0,4% trong tháng 4. 
 
Năng lực sản xuất tăng tới 75,2% trong tháng 5, chỉ báo cao nhất kể từ thời điểm đại dịch bùng phát vào năm ngoái. Mức độ sử dụng năng lực sản xuất phản ảnh những hạn chế đối với hoạt động sản xuất của các nhà máy, hầm lò và những doanh nghiệp công ích của nhà nước.
 
Thâm hụt thương mại quốc tế, theo Bộ Thương mại Mỹ cho biết, đã giảm 8,2%, tương đương từ mức kỷ lục 75 tỷ USD vào tháng 3 xuống còn 68,9 tỷ USD trong tháng 4/2021. Các chuyên gia kinh tế được tờ báo The Wall Street Journal tham vấn đã từng dự báo mức thâm hụt này sẽ giảm xuống tới 69 tỷ USD. Điều gì đã xảy ra: Trong tháng 4, xuất khẩu tăng 1,1% lên thành 205 tỷ USD, còn nhập khẩu giảm 1,4% xuống mức 273,9 tỷ USD. Dẫn đầu danh sách những sản phẩm nhập khẩu sụt giảm là dầu mỏ và hàng tiêu dùng. Xuất khẩu tăng nhờ các mặt hàng tư liệu sản xuất và máy bay Boeing. Xuất khẩu xe hơi giảm.
 
Theo thông tin của Bộ Lao động Mỹ, giá tiêu dùng trong tháng 5 đã tăng nhanh nhất trong vòng 13 năm trở lại đây, bởi vì áp lực lạm phát trong nền kinh tế Mỹ tiếp tục gia tăng. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Các chuyên gia kinh tế được Dow Jones tham vấn ý kiến dự báo lạm phát tăng 4,7%. Đây là mức tăng cao nhất kể từ thời điểm tăng 5,3% hồi tháng 8/2008, ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính, mà đã đẩy Mỹ vào vòng xoáy của một cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ sau thời kỳ Đại khủng hoảng năm 1930.
 
Giá xe hơi và xe tải đã qua sử dụng tiếp tục tăng, khi đạt tốc độ 7,3% trong tháng và 29,7% trong vòng một năm qua. Chỉ số giá phương tiện vận tải tăng 1,6%, mức cao nhất kể từ tháng 10/2009, và tăng 3,3% cả năm - chỉ số cao nhất kể từ tháng 11/2011. Chỉ số giá lương thực lặp lại mức tăng 0,4% của tháng 4/2021. Chỉ số giá xăng tăng 56,2% so với cùng kỳ năm trước, điều này đã đóng góp 28,5% vào mức tăng chung của mặt hàng năng lượng trong giai đoạn vừa qua. Giá thực phẩm vẫn duy trì mức tăng thấp là 2,2% cả năm.
 
Chỉ số giá, loại trừ giá thực phẩm và năng lượng biến động, đã tăng 3,8% so với mức dự báo 3,5% của Dow Jones về lạm phát cơ bản. Đây là tốc độ tăng nhanh nhất kể từ tháng 5/1992. Tính theo tháng, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 0,8%, còn chỉ số giá tiêu dùng cơ bản tăng 0,7%. Dự báo đối với cả hai chỉ số này đều là 0,5%.
 
Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 6,1% trong tháng 4 xuống còn 5,8% của tháng 5. Một phần sự sụt giảm này đến từ việc có 53 nghìn người rời khỏi thị trường lao động. Tỷ lệ thất nghiệp bị hạ thấp do những người lao động tự phân loại mình không chính xác như "lao động đang làm việc nhưng không có mặt ở chỗ làm". Nếu loại trừ vấn đề này, tỷ lệ thất nghiệp có lẽ sẽ ở mức 6,1% và gần 8,5% gồm cả những ai hiện đang không làm việc. Mức độ tham gia vào thị trường lao động hoặc tỷ lệ người Mỹ ở độ tuổi lao động đang có việc làm hay đang tìm kiếm việc làm giảm từ mức 61,7% trong tháng 4 xuống còn 61,6%.
 
Kinh tế các nước Liên minh châu Âu
 
Theo đánh giá được Cơ quan thống kê Liên minh châu Âu (Eurostat) công bố, GDP bao gồm yếu tố thời vụ trong quý I/2021 giảm 0,3% tại khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) và 0,1% trong Liên minh châu Âu (EU) so với quý trước. Xu hướng giảm này tiếp nối sự sụt giảm trong quý IV/2020 (-0,6% trong Eurozone và -0,4% trong EU), sau khi phục hồi mạnh mẽ trong quý III/2020 (+12,6% trong Eurozone và +11,7% trong EU). Trước đó, tốc độ sụt giảm mạnh nhất kể từ năm 1995 đã được ghi nhận trong quý II/2020 (-11,5% trong Eurozone và -11,1% trong EU).
 
So với cùng kỳ năm trước, GDP bao gồm các yếu tố thời vụ giảm 1,3% trong Eurozone và 1,2% trong EU vào quý I/2021, sau mức sụt giảm -4,7% và -4,4% tương ứng của quý trước đó.
 
Hình 2: Tốc độ tăng trưởng GDP Eurozone, % so với cùng kỳ năm trước
 
Nguồn: Eurostat.
 
Những chỉ số kinh tế khác của EU
 
Theo đánh giá của Eurostat, trong tháng 4/2021, sản xuất công nghiệp tăng 0,8% ở Eurozone và 0,5% ở EU so với tháng trước (0,4% trong Eurozone và 0,8% trong EU). So với cùng kỳ năm trước, sản xuất công nghiệp tăng 39,3% trong Eurozone và 38,7% trong EU. 
 
Hoạt động sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng dài hạn của tháng 4/2021 ở khu vực Eurozone so với cùng kỳ tháng trước tăng 3,4%; năng lượng tăng 3,2%; tư liệu sản xuất tăng 1,4% và hàng hoá trung gian tăng 0,8%, trong khi hoạt động sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng ngắn hạn giảm 0,3%. Tại EU, hoạt động sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng dài hạn và năng lượng đạt mức tăng 2,9%; tư liệu sản xuất tăng 0,8%; hàng hoá trung gian tăng 0,5%, còn sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng ngắn hạn giảm 0,7%. Trong số các nước thành viên thu thập được dữ liệu thống kê, tốc độ tăng trưởng cao nhất được ghi nhận tại Bỉ (+7,4%), Malta (+5,6%) và Estonia (+4,4%). Ở chiều ngược lại, tốc độ sụt giảm mạnh nhất đã được quan sát ở Đan Mạch (-3,8%), Hungari (-3,2%) và Litva (-2,4%).
 
So với tháng 4/2020, hoạt động sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng dài hạn của khu vực Eurozone tăng 117,3%; tư liệu sản xuất tăng 65,4%; hàng hoá trung gian tăng 38,7%; hàng tiêu dùng sử dụng ngắn hạn tăng 15,4% và năng lượng tăng 14,4%. Tại Liên minh châu Âu, hoạt động sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng dài hạn tăng 110,4%; tư liệu sản xuất tăng 67,5%; hàng hoá trung gian tăng 36,9%; hàng tiêu dùng sử dụng ngắn hạn tăng 14,0% và năng lượng tăng 13,8%. Sản xuất công nghiệp đã tăng tại tất cả các nước thành viên của khối, mà theo dữ liệu hiện có, mức tăng cao nhất là ở Ý (+79,5%), Slovakia (+69,1%) và Romania (+64,5%).
 
Theo đánh giá đầu tiên, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá từ khu vực Eurozone đến các nước trên thế giới trong tháng 4/2021 đã đạt được con số 193,8 tỷ euro, cao hơn 43,2% so với cùng kỳ năm 2020 (135,3 tỷ euro), do chịu tác động mạnh từ những biện pháp kiềm chế đại dịch COVID-19 của các nước thành viên áp dụng. Nhập khẩu từ các nước trên thế giới vào Eurozone đạt con số 182,8 tỷ euro, tăng tương đương 37,4% so với cùng kỳ năm 2020 (133,0 tỷ euro). Nhờ đó, cán cân thương mại hàng hoá của khu vực này với các nước còn lại trên thế giới thặng dư khoảng 10,9 tỷ euro trong tháng 4/2021 so với mức +2,3 tỷ euro của cùng kỳ năm trước. Thương mại nội khối tăng tới mức 178,9 tỷ euro trong tháng 4 năm nay, cao hơn 61,9% so với tháng 4/2020.
 
Theo đánh giá đầu tiên, xuất khẩu hàng hoá ra ngoài EU trong tháng 4/2021 đạt mức 179 tỷ euro, tăng 43,4% so với cùng kỳ năm 2020 (124,8 tỷ euro). Nhập khẩu từ các nước trên thế giới đạt con số 166,0 tỷ euro, tăng khoảng 32,8% so với cùng kỳ năm 2020 (125,0 tỷ euro). Kết quả là trong tháng 4/2021, EU đã ghi nhận thặng dư cán cân thương mại hàng hoá với các nước trên thế giới là 13,0 tỷ euro so với mức thâm hụt 0,1 tỷ euro của cùng kỳ năm ngoái. Thương mại nội khối đạt 274,9 tỷ euro trong tháng 4 năm nay, tăng tương đương 58,9% so với tháng 4/2020.
 
Căn cứ những dữ liệu được Eurostat công bố, lạm phát bình quân trong khu vực Eurozone ở mức 2,0% trong tháng 5/2021 so với mức 1,6% cùng kỳ tháng trước. Cùng kỳ năm trước, chỉ số này là 0,1%. Lạm phát bình quân của khu vực EU tăng từ mức 2,0% trong tháng 4 lên thành 2,3% trong tháng 5/2021. Cùng kỳ năm trước, chỉ số này được ghi nhận là 0,6%. 
 
Các nước có mức lạm phát bình quân thấp nhất trong khu vực lần lượt là Hi Lạp (-1,2%), Malta (0,2%) và Bồ Đào Nha (0,5%). Ở phía ngược lại, lạm phát bình quân cao nhất đã được quan sát ở Hungari (5,3%), Ba Lan (4,6%) và Luxemburg (4,0%). So với tháng 4/2021, lạm phát bình quân giảm tại 4 quốc gia thành viên, giữ ổn định tại một quốc gia và tăng ở 22 quốc gia còn lại.
 
Trong tháng 5, đóng góp lớn nhất vào mức tăng lạm phát bình quân là các mặt hàng như năng lượng (+1,19 đpt), theo sau là dịch vụ (+0,45 đpt), các mặt hàng công nghiệp phi năng lượng (+0,19 đpt) và thực phẩm, đồ uống có cồn và thuốc lá (+0,15 đpt).
 
Trong tháng 4/2021, theo thống kê của Eurostat, tỷ lệ thất nghiệp bao gồm yếu tố thời vụ tại khu vực Eurozone ở mức 8,0% so với mức 8,1% của tháng 3 và cao hơn mức 7,3% của cùng kỳ năm 2020. Tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực EU là 7,3% trong tháng 4/2021, là mức ổn định so với tháng 3 và cao hơn mức 6,7% của cùng kỳ năm ngoái.
 
Theo đánh giá của Eurostat, có 15,38 triệu người ở EU, trong đó gồm 13,03 triệu người ở khu vực Eurozone, không có việc làm trong tháng 4/2021. So với cùng kỳ tháng trước, số lượng người thất nghiệp giảm 165 nghìn người tại EU và 134 nghìn người tại các nước Eurozone. So với tháng 4 năm ngoái, con số này tại EU tăng 1,406 triệu người, còn trong Eurozone tăng 1,275 triệu người.
 
Kinh tế Nhật Bản
 
Kinh tế Nhật Bản trong quý I/2021 sụt giảm nhẹ hơn so với dự báo, điều làm bớt đi những lo ngại về rủi ro của một cuộc suy thoái kép do đất nước này bước vào giai đoạn áp dụng các hạn chế tiếp theo nhằm ngăn chặn vi-rút corona lây lan. Văn phòng chính phủ Nhật Bản cho biết, GDP quý I/2021 giảm 3,9% so với quý IV/2020, điều này vượt qua những dự báo của các chuyên gia phân tích và cho thấy rằng nền kinh tế lớn thứ ba thế giới đã đứng vững trước làn sóng lây nhiễm thứ ba tốt hơn nền kinh tế toàn cầu.
 
Hình 3: Tốc độ tăng trưởng GDP của Nhật Bản, %
 
 
Nguồn: Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản
 
GDP loại trừ yếu tố thời vụ giảm 1,0% so với quý trước, so với dự báo của các chuyên gia phân tích là 1,2%, còn GDP danh nghĩa giảm 1,3%. Các nhà kinh tế đã dự báo mức sụt giảm là 1,6%. Tiêu dùng cá nhân giảm 1,5% so với quý IV/2020, so với dự báo của các nhà kinh tế là 1,4%. Đầu tư cho lĩnh vực kinh doanh giảm 1,2%, tương đương mức dự báo của những chuyên gia phân tích. Hàng tồn kho đóp góp 0,4 đpt vào mức tăng của GDP, so với dự báo của các chuyên gia là 0,3 đpt. 
 
Các chỉ số kinh tế khác của Nhật Bản
 
Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thuần khiến tốc độ tăng GDP giảm 0,2 đpt, phản ánh đúng dự báo đưa ra. Thu nhập tiền mặt từ lực lượng lao động đã tăng 1,6% trong tháng 4/2021 so với cùng kỳ năm trước, gấp đôi mức dự báo của các nhà phân tích.
Theo dữ liệu do Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản công bố, GDP thực tế của Nhật Bản trong tháng 4 giảm 0,3% so với tháng trước, do những yếu tố tác động từ bên ngoài: Trong khi kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 2,1%, thì nhập khẩu tăng 7,1%, tạo áp lực giảm lên tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng tháng. Nhập khẩu tăng trưởng mạnh phản ánh những thành phần bên trong của nền kinh tế tương đối lành mạnh. Vốn đầu tư của doanh nghiệp tăng 3,4%, đầu tư vào nhà ở tăng 2,5% và tiêu dùng hộ gia đình tăng 0,3%.
 
Theo báo cáo về chỉ số sản xuất công nghiệp do Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản công bố, hoạt động sản xuất công nghiệp của Nhật Bản tăng 2,9% trong tháng 4/2021 so với cùng kỳ tháng trước. Chỉ số này ghi nhận mức tăng tháng thứ hai liên tiếp, sau khi điều chỉnh giảm 1,7% hồi tháng 3/2021. Cơ quan này cho biết, nhu cầu đầu tư ra nước ngoài tăng mạnh, kéo theo hoạt động sản xuất ổn định trong các lĩnh vực liên quan tới chế tạo máy và công nghệ thông tin. Trong báo cáo của Chính phủ nêu rõ rằng xuất khẩu của Nhật Bản trong tháng 5 tăng 49,6% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong vòng 41 năm qua, do nhu cầu mua xe hơi và phụ tùng. Theo dữ liệu của Bộ Tài chính Nhật Bản, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trong kỳ báo cáo đạt mức 56,85 tỷ USD, là tốc độ tăng cao nhất kể từ tháng 4/1980, khi xuất khẩu tăng tới 51,4%.
 
Cơ quan này tuyên bố rằng kim ngạch xuất khẩu trong tháng 5/2021 tăng tháng thứ ba liên tiếp, một phần là do mức giảm tới hơn 28% so với cùng kỳ năm ngoái được ghi nhận vào tháng 5/2020 bởi những tác động tiêu cực sau khi đại dịch bùng phát, bao gồm cả sự sụt giảm chung về cầu trên thế giới.
 
Dữ liệu sơ bộ của Bộ Tài chính Nhật Bản cho thấy rằng kim ngạch nhập khẩu tăng đột biến trong kỳ báo cáo, khi vọt lên tới 27,9% và đạt mức 58,58 tỷ USD. Đây là mức tăng tháng thứ tư liên tiếp. Cán cân thương mại của Nhật Bản với các nước, lần đầu tiên trong vòng 4 tháng, thặng dư 1,69 tỷ USD.
 
Trong tháng 5/2021, giá tiêu dùng tại Nhật Bản tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước, lần đầu tiên sau 14 tháng, do giá năng lượng tăng. Theo dữ liệu của Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản, giá tiêu dùng trên cả nước nói chung, loại trừ các mặt hàng thực phẩm tươi sống không ổn định, đã tăng do giá xăng và dầu hỏa tăng cao trong bối cảnh giá dầu thô thế giới liên tục xác lập đỉnh mới. Chỉ số giá tiêu dùng cơ bản trong tháng 4 giảm 0,1%.
 
Liên quan tới các sản phẩm dầu mỏ mà tăng 15,6%, số liệu thống kê cho thấy xăng tăng 19,8%; còn dầu hoả bật tăng 19,0%. Phí dịch vụ công ích giảm 0,3%, bởi vì thường có độ trễ khi giá dầu thô thế giới thay đổi. Tuy nhiên, giá điện giảm 2,9% và giá khí đốt đô thị giảm 3,7% so với mức giảm của cùng kỳ năm trước.
 
Thêm một yếu tố khiến chỉ số giá tiêu dùng cơ bản tăng là giá nhà ở tăng 0,6% so với năm trước, do phí bảo hiểm hỏa hoạn và động đất tăng 16,4%, bởi thiên tai thường xuyên xảy ra khiến nhiều công ty bảo hiểm phải tăng mức phí này trong năm nay. Giá thiết bị gia dụng, như điều hòa không khí, đã tăng do trong điều kiện đại dịch COVID-19 mọi người ở nhà nhiều hơn, trong khi hàng hóa sử dụng dài hạn tăng 2,3%. Bên cạnh đó, cước phí điện thoại di động đã giảm 27,9%, khi tiếp tục xu hướng giảm sau khi các doanh nghiệp viễn thông lớn đã giảm phí sử dụng dữ liệu trước áp lực của Chính phủ.
 
Giá tiêu dùng cơ bản, loại trừ thực phẩm tươi sống và năng lượng, đã giảm 0,2% trong tháng 5/2021 so với cùng kỳ năm ngoái, và là mức giảm tháng thứ hai liên tiếp.
 
Theo thống kê của Chính phủ, tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản đã tăng 3,0% trong tháng 5, là mức tối đa trong vòng 5 tháng gần đây, do việc duy trì tình trạng khẩn cấp liên quan tới đại dịch COVID-19. Căn cứ dữ liệu của Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản, tỷ lệ thất nghiệp có tính đến yếu tố thời vụ đã tăng từ mức 2,8% trong tháng 4 và là mức tăng tháng thứ hai liên tiếp. Chỉ báo này vẫn giữ ở mức trên 2,5% kể từ thời điểm tăng cao nhất là 3,0% hồi tháng 12 năm ngoái.
 
Những số liệu thống kê mới nhất cho thấy rằng số lao động có việc làm là 66,45 triệu người, ít hơn 130 nghìn người so với tháng trước và sụt giảm tháng thứ ba liên tiếp. Số người thất nghiệp đã tăng lên 100 nghìn từ tháng 4/2021 và đạt mức 2,04 triệu người. Trong số đó, có 810 nghìn người tự thôi việc, 630 nghìn người bị buộc thôi việc và 480 nghìn người đang tìm kiếm việc làm mới.
 
Các dữ liệu thống kê chuyên ngành của Bộ Y tế, Lao động và Xã hội Nhật Bản cho thấy rằng hệ số tiếp cận việc làm trong tháng 5/2021 là 1,09 và không thay đổi so với tháng trước. Điều này có nghĩa rằng cứ 100 người lại có 109 việc làm cần tuyển dụng.
 
Tài liệu tham khảo:

 
 
Theo OECD
TS. Nguyễn Quang Huy, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương (dịch)