Giải pháp đột phá cho khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam, kinh nghiệm của Đức

Việt Nam hiện đang đứng thứ ba trong khu vực ASEAN về khởi nghiệp sáng tạo và đang là thị trường tiềm năng, có sức hút lớn trong mắt các nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt là các nhà đầu tư với quỹ từ tầm trung trở xuống. Trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay, các chuyên gia cho rằng, các yếu tố về cơ hội thị trường, môi trường pháp lý, sự tăng trưởng tích cực của nền kinh tế đặc biệt là sự hậu thuẫn từ Nhà nước chính là các điểm hấp dẫn giúp các nhà đầu tư biết đến và tham gia vào môi trường khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam, một đất nước vẫn còn nhiều dư địa để phát triển. 

Ảnh minh họa

1. Thực trạng khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam 

Về cơ hội thị trường, với hơn 97 triệu dân, dân số Việt Nam xếp thứ 15 trên thế giới, chỉ sau Indonesia và Phillipines ở khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh đó, dân số Việt Nam cũng tương đối trẻ so với các nước trong khu vực và thế giới, độ tuổi trung bình là 37,34. Nếu chỉ nhìn riêng ở lĩnh vực công nghệ số, thị trường cho các nhà khởi nghiệp về lĩnh vực 4.0 là vô cùng rộng lớn bởi Việt Nam là một trong những thị trường di động và Internet phát triển nhanh nhất trên thế giới, là cơ hội để giúp các ứng dụng số có độ tiếp nhận cao và dễ dàng được lan tỏa. Một kết quả thống kê đáng mừng đó là Việt Nam là một trong top 20 nước có số người sử dụng Internet cao nhất thế giới. Theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ người sử dụng Internet ở Việt Nam năm 2019 đạt 68,7%, trong khi trung bình của thế giới là 51,4%. Tính đến cuối năm 2019, Việt Nam lọt vào top 15 thị trường có số lượng người dùng smartphone cao nhất thế giới.

Về sự cải thiện của hành lang pháp lý cũng như những cơ chế, chính sách khác của Chính phủ để hỗ trợ khởi nghiệp, mặc dù lĩnh vực khởi nghiệp sáng tạo vẫn còn mới mẻ nhưng đã nhận được nhiều sự quan tâm của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Các cơ sở pháp lý căn bản là: Quyết định 844/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025, Chỉ thị 16/CT-TTg về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN lần thứ 4, Luật Doanh nghiệp năm 2020 – Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được ban hành năm 2020, hay là những sự kiện ở tầm quốc gia như Techfest (Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Quốc gia) cho thấy sự quan tâm của Chính phủ đến tương lai của khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam. Bên cạnh đó, truyền thông chính thống trong nước đang hỗ trợ đắc lực, là cầu nối giữa người khởi nghiệp với nhà đầu tư trong nhiều ngành nghề tại nhiều địa phương. Tuy mới là những khởi đầu cơ bản, nhưng đó là cánh cửa mở ra nhiều cơ hội đầu tư tiềm năng ở Việt Nam. 

Yếu tố cuối cùng không kém phần quan trọng, đó là sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Năm 2020 có thể nói là một năm tăng trưởng đầy bản lĩnh của Việt Nam. Được xem là một năm của những khó khăn và thách thức lớn đối với kinh tế thế giới nói chung trong đó có Việt Nam, kinh tế thế giới được dự báo suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng dương, ở mức 2,91%.

Việc tiếp tục phát huy và cải thiện những điểm hấp dẫn đó đưa khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam lên một tầm cao mới sẽ giúp mở ra nhiều cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam. Sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ góp phần tăng cường dòng tiền mới đầu tư vào thị trường Việt Nam, giúp những công ty khởi nghiệp có điều kiện vốn để phát triển sản phẩm cũng như mối quan hệ và kinh nghiệm để tham gia các thị trường khu vực hay toàn cầu. Các doanh nghiệp hay các doanh nhân khởi nghiệp cũng có thêm nhiều động lực để phát triển sản phẩm mới, áp dụng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ tạo ra nhiều sản phẩm đột phá giải quyết những vấn đề cấp bách của kinh tế - xã hội. Qua đó, tạo ra một nền kinh tế cởi mở, mang tính chia sẻ, nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả, tiết kiệm chi phí cho các doanh nghiệp, các ngành công nghiệp truyền thống. Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam được nâng cao, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. 

2. Một số giải pháp đột phá cho khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam

a) Vấn đề vốn đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo 

Vốn là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo nhưng hầu hết doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam đều gặp khó khăn với quá trình tiếp cận nguồn vốn và kêu gọi vốn, đặc biệt trong những giai đoạn ban đầu để phát triển sản phẩm và tìm cơ hội thị trường. Tại Việt Nam, doanh nghiệp và nhà đầu tư cho biết thường mất khoảng 06 tháng đến 1 năm để hoàn thành các quy định và thủ tục cho một thương vụ đầu tư. Quy trình để giải ngân nguồn vốn từ thời điểm các bên ra quyết định đầu tư tới khi ký quyết định đầu tư hay các quy trình rút vốn, chuyển nhượng vốn vẫn còn rườm rà phức tạp và không phù hợp với tính chất đầu tư rủi ro, mạo hiểm của khởi nghiệp sáng tạo. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chưa có các chính sách để thu hút các nhà đầu tư thiên thần, các quỹ đầu tư mạo hiểm. Điều này dẫn tới tình trạng Việt Nam hiện đang thiếu vắng các nhà đầu tư thiên thần, đặc biệt nhà đầu tư quốc tế để cung cấp "vốn mồi" ban đầu cho các doanh nghiệp xây dựng và hoàn thiện sản phẩm trước khi vươn ra thị trường, khiến phần lớn doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo không có khả năng đi tiếp và thất bại. 

Việc tiếp cận thông tin về các quỹ hay các cơ chế, chính sách liên quan thường khó khăn do thông tin manh mún, rời rạc, thiếu cập nhật. Các doanh nghiệp và các nhà đầu tư mong muốn Chính phủ thiết lập một thị trường vốn dành riêng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo với một quy trình, thủ tục riêng để tạo thuận lợi trong việc huy động vốn. Đồng thời, có thể xem xét thành lập sàn chứng khoán khởi nghiệp sáng tạo ASEAN tại Việt Nam để hút dòng vốn đầu tư của nhiều bên, đặc biệt vốn từ các nhà đầu tư quốc tế.

Để doanh nghiệp khởi nghiệp cũng như các nhà đầu tư thuận tiện, nhanh chóng tiếp cận thông tin cần thiết, nhằm rút ngắn được thời gian gọi vốn và thực hiện đầu tư cho doanh nghiệp, nên giao cho một cơ quan đầu mối xây dựng một cổng thông tin tập trung, kết nối thông tin của các quỹ, vườn ươm, các đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, các chính sách, đề án, quy trình, quy định của Chính phủ, khung pháp lý liên quan.... 

Ở nhiều quốc gia, việc đầu tư từ các doanh nghiệp hay các tập đoàn lớn có xu hướng dẫn dắt nền kinh tế là một trong những kênh đầu tư quan trọng đối với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Ở Việt Nam, chính sách quốc gia rất cần có các nội dung khuyến khích các doanh nghiệp, tập đoàn lớn đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo bởi chính các doanh nghiệp này luôn thể hiện mong muốn đó. Tuy nhiên, thực tế hiện nay các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước chưa có cơ chế rõ ràng để hạch toán đầu tư cho các dự án khởi nghiệp sáng tạo hoặc mua sắm, sử dụng sản phẩm từ các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Vì vậy, việc tạo ra cơ chế để các doanh nghiệp đầu ngành, doanh nghiệp có uy tín và quan tâm tới vấn đề đổi mới sáng tạo được dẫn dắt, đầu tư, phát triển, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực của mình; tạo nên chuỗi giá trị liên kết giữa các doanh nghiệp khởi nghiệp đối với từng lĩnh vực là rất cần thiết. Điều này sẽ hỗ trợ rất tốt cho các doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận và mở rộng thị trường. 

Trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư trực tiếp của Việt Nam cho khởi nghiệp sáng tạo còn có những khó khăn cần khắc phục, Chính phủ và các Bộ chuyên ngành nên quan tâm tới hình thức đầu tư gián tiếp. Một số bài học thành công từ các quốc gia khác mà Việt Nam nên tham khảo như ưu đãi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và thu nhập cá nhân cho các doanh nghiệp hoặc cá nhân khởi nghiệp sáng tạo, không yêu cầu các cơ chế báo cáo về tài chính, thuế … trong một số năm đầu tiên để doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tập trung phát triển sản phẩm. Bởi vì giai đoạn đầu loại hình doanh nghiệp này hầu như rất ít rủi ro với Nhà nước xét từ vai trò quản lý hoạt động doanh nghiệp. 

b) Vấn đề tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo 

Các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam không chỉ gặp khó khăn trong tiếp cận vốn mà còn gặp khó trong tiếp cận thị trường vì nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, mặc dù cơ hội thị trường là rất cao. Các doanh nghiệp khởi nghiệp luôn mong muốn có một cơ chế hợp pháp và một đơn vị đầu mối hỗ trợ, quyết định việc doanh nghiệp có nên thí điểm hay thử nghiệm diện hẹp các sản phẩm của mình, để từ đó các doanh nghiệp khởi nghiệp có cơ hội đưa sản phẩm hợp pháp ra thị trường nhằm giải quyết các bài toán trực tiếp của Việt Nam thay vì phải đưa sản phẩm ra nước ngoài đăng ký. Đây là vấn đề mới, chưa có khung khổ pháp lý tại Việt Nam.

Thời gian tổng thể cấp phép kinh doanh cho doanh nghiệp hiện còn quá dài, cần cải thiện để rút ngắn thời gian tiếp cận thị trường. Hiện việc thương mại hóa các sản phẩm khởi nghiệp sáng tạo, đặc biệt các sản phẩm từ ứng dụng công nghệ thông tin đang gặp nhiều khó khăn. Các loại hình sản phẩm, dịch vụ này đều rất mới, là những ứng dụng lần đầu xuất hiện trên thị trường. Việc phải chờ đợi rất lâu để được cấp phép, đôi khi làm lỡ cơ hội kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. 

Về chiến lược thị trường cho khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam, cần tập trung chi tiêu Chính phủ cho các sản phẩm công nghệ từ các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Đây là nền tảng ban đầu, quan trọng nhất để giúp doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có thị trường và giúp họ đi ra toàn cầu. 

c) Vấn đề nguồn nhân lực và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam

Với các quốc gia đẩy mạnh khởi nghiệp sáng tạo thì nguồn nhân lực và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo là những bí quyết thành công cũng như là các ưu tiên đầu tư rất lớn từ phía nhà nước lẫn doanh nghiệp để tạo ra môi trường hiệu quả, bền vững cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Ở Việt Nam, nguồn nhân lực trẻ và có sức sáng tạo cao đang là sức hút cho nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư; sự phát triển nhanh chóng của hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo cũng góp phần tăng cường sức thu hút này. Tuy nhiên, giữa tiềm năng với việc đào tạo, phát huy mạnh mẽ nguồn nhân lực, tạo ra các cơ chế trao đổi nhân lực chất lượng cao giữa Việt Nam với các quốc gia, tăng cường vai trò của các hệ sinh thái trong quá trình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo còn rất nhiều vấn đề phải cải thiện nếu đặt ra mục tiêu phát triển theo hướng "đột phá". 

Các nhà đầu tư, các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp và các doanh nghiệp nhận thấy rằng việc tiến hành đưa các chương trình giáo dục và đào tạo về khởi nghiệp sáng tạo, đào tạo các công nghệ mới có giá trị cao với nền kinh tế số như trí tuệ nhân tạo, công nghệ chuỗi khối, xây dựng và khai thác dữ liệu lớn, khoa học dữ liệu và phân tích dữ liệu... vào chương trình học phổ thông để phát triển nguồn nhân lực cho khởi nghiệp là hết sức cấp thiết. Đặc biệt, tiếng Anh cần được dạy và học như là một ngôn ngữ thứ hai, thay vì là một "ngoại ngữ" vì đây là ngôn ngữ chính thức cho mọi quá trình làm việc, trao đổi và hợp tác giữa các cá nhân, tổ chức trong quá trình kể trên. 

 Bên cạnh đó, có thể thúc đẩy, nâng cao chất lượng nhân lực khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam bằng cách tổ chức các chương trình đào tạo thông qua việc kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam và hệ sinh thái khởi nghiệp quốc tế. Chính phủ nên xem xét tháo gỡ một số rào cản hiện tại cho việc kết nối này như quy định về giấy phép lao động, quy định về thị thực nhập cảnh ... để tạo ra sự thông thoáng, cởi mở, tăng tính hấp dẫn cho Việt Nam. 

 Với các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đây là các mô hình hoạt động có tính chất gần như các doanh nghiệp xã hội, đóng góp lớn cho xã hội, cho phát triển kinh tế và lợi nhuận cũng quay vòng trở lại cho các mục tiêu cam kết với doanh nghiệp. Vì thế, cần xem xét, thiết lập một số chính sách thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo như:  Giảm hoặc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các công ty, tổ chức tư nhân hoạt động trong các lĩnh vực của hệ sinh thái khởi nghiệp, cụ thể là các công ty quản lý Quỹ khởi nghiệp sáng tạo, co-working space (không gian làm việc chung), incubator (vườn ươm khởi nghiệp), accelerator (chương trình tăng tốc khởi nghiệp), mentoring programs (cố vấn khởi nghiệp),... Bổ sung chính sách ưu đãi thuế thu nhập cá nhân, miễn hoặc giảm cho các khoản đầu tư cá nhân vào công ty khởi nghiệp sáng tạo hoặc khi thoái vốn khỏi công ty khởi nghiệp sáng tạo vì bản chất của đầu tư loại này là đầu tư rủi ro. Sử dụng các thước đo về hiệu quả đầu ra để phân loại chất lượng các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, theo đó, cho phép các trung tâm chất lượng, uy tín được tiếp cận các với chính sách có tính đặc thù mà doanh nghiệp và nhà đầu tư kiến nghị để đảm bảo cả mục tiêu quản lý của nhà nước cũng như vẫn có cơ hội cho khởi nghiệp sáng tạo phát triển. Cho phép thí điểm các sản phẩm hoặc các dịch vụ mới; cho phép tổ chức các hoạt động hợp tác quốc tế, mời chuyên gia quốc tế...với các quy trình thủ tục ưu tiên…. 

3. Nhìn ra thế giới - Khởi nghiệp tại Đức, sáng tạo và có định hướng phát triển

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, khái niệm về doanh nghiệp khởi nghiệp rất rõ ràng: các doanh nghiệp thỏa mãn một số các tiêu chí sau: (1) có số năm hoạt động từ khi thành lập dưới 5-10 năm; (2) hoạt động dựa trên các công nghệ hoặc mô hình kinh doanh tiên tiến; (3) có mục tiêu tăng trưởng lớn và có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế, tiềm năng tăng trưởng cao, mức tiền lương trên mức trung bình, có cơ hội trở thành các dự án hàng đầu khu vực sau thời gian 10 năm, cung cấp các giải pháp cải tiến cho các ngành hiện tại, yêu cầu vốn lớn và rủi ro thất bại lớn.

Trong các giai đoạn khởi nghiệp, giai đoạn "hạt giống" (khoảng -2 đến 0 năm trước khi thành lập) là rất quan trọng. Giai đoạn này những ý tưởng khởi nghiệp bắt đầu ra đời, người khởi nghiệp có các suy nghĩ về các ý tưởng kinh doanh hấp dẫn, phân tích về thị trường, khách hàng và xúc tiến thành lập đội khởi nghiệp. Ở Đức giai đoạn này được hỗ trợ mạnh mẽ từ các trường đại học, các bộ nghiên cứu kinh tế của các bang, liên bang và chính phủ liên bang, các dự án hấp dẫn được tài trợ, bảo trợ của các trường đại học. Các đội khởi nghiệp dưới sự giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng lên kế hoạch kinh doanh, xác định nhu cầu tài chính và tìm kiếm nguồn tài chính để thành lập doanh nghiệp.

Trong giai đoạn doanh nghiệp mới thành lập, nhóm khởi nghiệp phải bảo vệ công nghệ đồng thời phải giới thiệu và bán được các sản phẩm từ ý tưởng của mình trên thị trường và tạo được ra các giá trị,… Giai đoạn này rất khó để thu hút được các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm bởi rất rủi ro, do đó Nhà nước Liên bang và bang có tài trợ về vốn để tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm, cung cấp thông tin, tổ chức các cuộc thi kế hoạch kinh doanh, tổ chức các sự kiện.

Một kinh nghiệm đáng chú ý trong hai giai đoạn trên, đó là ở Đức hình thành lên một mạng lưới các Quỹ đầu tư thiên thần (khoảng trên 7500 quỹ, đầu tư khoảng 650 triệu EUR mỗi năm). Các quỹ này tiến hành đầu tư vào các doanh nghiệp từ giai đoạn sớm bằng các kinh nghiệm, mạng lưới và tài chính của mình, giúp các doanh nghiệp có khả năng thành công cao hơn. Bên cạnh đó mô hình công ty xây dựng công ty, nền tảng huy động vốn từ cộng đồng, xây dựng các cộng đồng khởi nghiệp, hệ thống các thông tin cung cấp cho khởi nghiệp cũng được chính phủ Liên bang quan tâm, thúc đẩy phát triển.

Các giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp tại Đức rất sáng tạo, có nhiều điểm đáng học hỏi cho Khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam, đó là, tăng cường cơ cấu hỗ trợ trong các tổ chức khoa học; khuyến khích các tổ chức nghiên cứu theo đuổi các mục tiêu của cấu trúc hỗ trợ hiện có, hỗ trợ phát triển năng lực nghiên cứu và các cơ sở nền tảng, tăng cường hiệu quả thông qua kết nối mạng lưới các đơn vị nghiên cứu; tăng cường hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo cụm và mạng lưới doanh nghiệp; giảm tính không minh bạch về thông tin thông qua việc xây dựng một nền tảng dịch vụ thông tin hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp; các hoạt động hỗ trợ cho hệ sinh thái khởi nghiệp: tập trung nâng cao năng lực khởi nghiệp, hỗ trợ công khai cho các ưu đãi không gian, công khai hóa hơn các hồ sơ mua sắm công, phát triển các điểm dịch vụ một cửa; tăng cường thu hút các hoạt động khởi nghiệp của nước ngoài vào Đức.

 

Cẩm Tú (Tổng hợp)