Tác phẩm đạt giải B Cuộc thi học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Ban Kinh tế Trung ương trân trọng giới thiệu tác phẩm đoạt giải B cuộc thi "Cán bộ, đảng viên các cơ quan Đảng Trung ương học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Bài viết của đồng chí Phạm Ngọc Phương, Ban Kinh tế Trung ương.

MỞ ĐẦU

Chúng ta đều biết, những luận điểm về kinh tế - xã hội trong nội dung tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra vẫn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay, và là quan điểm cốt lõi trong chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa "có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế"[1]. Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 đến nay, chúng ta càng có điều kiện hành động sát với quan điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế, coi nền kinh tế nhiều thành phần là đặc thù của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ đó, đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cho phép và khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực. Hiểu được sâu sắc hơn tư tưởng của Bác về kinh tế - xã hội sẽ rất có ích cho những người hiện đang làm công tác nghiên cứu, tham mưu, đề xuất các chủ trương đường lối lớn về kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay.

1.Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm lý luận chính trị toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm trước hết và chủ yếu là kết quả vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời còn là kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một chỉnh thể về nhiều mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa – xã hội, đạo đức, Đảng, Nhà nước, nhân dân, dân tộc, quốc tế...

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế là một bộ phận hợp thành của tư tưởng Hồ Chí Minh tạo thành một thể thống nhất của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức và con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế được hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành tư tưởng của Người về con đường giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước theo chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Để hiểu được tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, cần tìm hiểu những nhân tố đã góp phần hình thành nên tư tưởng đó. Về nội dung này hiện có nhiều cách tiếp cận và lập luận khác nhau, tuy nhiên có thể nhận thấy bốn cơ sở quan trọng đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế.

1.1.Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn trong truyền thống văn hóa quản trị đất nước của Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế là một bộ phận hữu cơ của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh. Lý tưởng chính trị Hồ Chí Minh "là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"[2]. Đó là sự thống nhất giữa độc lập về chính trị với phồn vinh về kinh tế, giải phóng dân tộc đi liền với chấn hưng đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh.

Lý tưởng đó của Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn trong suốt quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc ta, "thương người như thể thương thân"; từ những tấm gương yêu nước, thương dân của các bậc minh quân, hiền thần trong lịch sử dân tộc. Trong đường lối an dân, trị quốc của các bậc tiền nhân, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, chăm lo đời sống của nhân dân bao giờ cũng được coi là chính sách nền tảng của mọi chính sách. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói 13-6-1955, Người đã yêu cầu "chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân"…  "cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân"… "Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được"[3]. Noi gương người xưa, trong "Di chúc", Người cũng đề nghị sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hoàn toàn thắng lợi thì "miễn thuế nông nghiệp trong 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất"[4]. Tư tưởng đó chính là sự kế thừa tư tưởng "khoan dân" của cha ông.

1.2.Kế thừa, phát triển tư tưởng của nhân loại về kinh tế

 Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình trí thức nên tư tưởng Hồ Chí Minh cũng được hình thành trên nền tảng tiếp thu tư tưởng từ nền giáo dục Nho học và bước đầu tiếp cận văn hóa phương Tây cũng như tư tưởng của Phật giáo và Đạo giáo một cách có chọn lọc. Lòng thương người, chính sách khoan dân của các vua đầu đời nhà Lý có phần chịu ảnh hưởng của tinh thần từ bi hỷ xả của Phật giáo. "Dân vi bang bản" (Dân là gốc nước) (Kinh thư), dân là người làm ra tất cả, không bảo vệ dân là mất nước, đồng thời "Vương giả dĩ dân vi thiên, nhi nhân dân dĩ thực vi thiên". "Thiên" là cao nhất, quan trọng nhất, vua coi dân là cao nhất, còn dân coi việc ăn là cao nhất. Thành ngữ này ý nói nhân dân coi vấn đề ăn là vấn đề to lớn nhất, cơ bản nhất trong cuộc sống"[5]. Gạt bỏ những hạn chế và kế thừa những giá trị tích cực, đồng thời dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh đã phát triển quan niệm "Dân là gốc" lên tầm cao mới mang tính toàn diện hơn, khoa học hơn. Theo Hồ Chí Minh, nhân dân là gốc rễ của sự trường tồn: "gốc có vững thì cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"[6]. Nhà nước mà chúng ta xây dựng là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Người khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân."[7] Do đó, muốn được lòng dân thì trước hết phải làm cho dân được no đủ, tức là phải chăm lo phát triển kinh tế làm ra nhiều của cải, lương thực, bởi miếng ăn là điều kiện trước tiên của sự sống, "có thực mới vực được đạo", có đủ ăn mới có ổn định xã hội rồi sau mới có thể nói đến hưng thịnh của quốc gia. Khi Hồ Chí Minh đề cập đến các vấn đề mục tiêu, động lực kinh tế, vấn đề xử lý mối quan hệ lợi ích trong kinh tế (lợi ích chung và lợi ích riêng, lợi trước mắt và lợi ích lâu dài,...) đặc biệt, trong thời kỳ vật chất còn quá eo hẹp, điều kiện sản xuất còn vô cùng khó khăn, thì quan điểm của Người về công bằng trong phân phối đó là "không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên"[8].

1.3.Hình thành từ thực tiễn đấu tranh, phê phán những chủ trương, chính sách, phương pháp, hình thức áp bức bóc lột man rợ, tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc thuộc địa.

 Những bài viết đầu tiên của Hồ Chí Minh về kinh tế ra đời vào những năm 20 của thế kỷ trước là những trang khảo sát về thực trạng đói nghèo, bần cùng hóa của nhân dân các nước thuộc địa dưới ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân.

Trước hết, ta thấy Người tố cáo chế độ chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Chính quyền thực dân đã đem nộp phần lớn đất đai thuộc địa cho côngxoócxiom của những bọn tư bản cá mập, "đã thủ tiêu quyền chiếm hữu công cộng và thay thế bằng quyền chiếm hữu tư nhân. Nó cũng thủ tiêu quyền chiếm hữu nhỏ, làm lợi cho quyền chiếm hữu đồn điền lớn"[9].

Sự bóc lột về kinh tế được chúng thực hiện thông qua các chế độ thuế khóa nặng nề, chế độ ăn cắp được hợp pháp hóa của bọn quan cai trị, bọn chủ đồn điền; chế độ lao dịch khổ sai của nhà tù; chế độ "mộ phu" với tiền công chết đói,... thông qua các hình ảnh, sự kiện và các con số cụ thể, tác giả rút ra kết luận: "Lịch sử việc người Âu xâm chiếm Châu Phi - cũng như bất cứ lịch sử xâm chiếm thuộc địa nào- thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu những người bản xứ"[10]. Từ sự phê phán tính chất dã man vô nhân đạo của chế độ kinh tế thuộc địa đã dẫn Hồ Chí Minh suy nghĩ tới những luận điểm về kinh tế sẽ được áp dụng sau khi đất nước giành được tự do, độc lập.

1.4.Tiếp nhận chính sách "kinh tế mới" của V.I. Lênin.

Khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu "Tư bản" của C.Mác nhưng như Người đã từng nói: có nhiều vấn đề chưa hiểu được rõ ràng. Vấn đề này chỉ sáng tỏ khi Chính sách "kinh tế mới" được V.I. Lênin ban hành vào năm 1921 đã thay đổi các phương pháp lãnh đạo kinh tế. Nhà nước chỉ nắm các ngành công nghiệp lớn và vừa còn tiểu công nghiệp thì nhường lại cho các hợp tác xã và tư nhân thuê. Các xí nghiệp được tự chủ trong mua nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, đồng thời bắt đầu sử dụng chế độ hạch toán kinh tế. Việc lưu thông tiền tệ được khôi phục. Chế độ tiền lương được xây dựng lại nhằm làm cho công nhân quan tâm hơn đến nâng cao tay nghề và năng suất lao động. Chế độ phân phối bình quân được thay thế bằng trả lương theo số lượng và chất lượng lao động. Chế độ trưng thu lương thực thừa được thay thế bằng chính sách thuế lương thực. Sau khi đóng thuế, nông dân được tự do mua bán, trao đổi phần nông sản thừa, nhờ đó kích thích được nông dân mở rộng sản xuất nông nghiệp, thu hút được nông dân vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Về các thành phần kinh tế, V.I. Lênin đã chỉ rõ: nền kinh tế trong thời kỳ đó xét về toàn bộ là nền kinh tế quá độ với sự tồn tại của 5 thành phần kinh tế, chứ chưa phải là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa; Việc cải tạo các thành phần kinh tế tư bản tư nhân và sản xuất nhỏ phải làm dần dần, từng bước chứ không thể xóa bỏ ngay một lúc bằng mệnh lệnh hành chính được.

Đảng và Nhà nước Liên Xô coi Chính sách kinh tế mới không phải là một cuộc vận động nhất thời mà là một chính sách lâu dài, xuyên suốt thời kỳ quá độ nhằm đưa một nước tư bản phát triển trung bình, còn nặng tính tiểu nông, đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp cần được chuẩn bị kỹ và chỉ có thông qua chế độ hợp tác xã mới có thể chuyển dần các nông hộ nhỏ lên chủ nghĩa xã hội, thống nhất họ lại trong những nông trang tập thể lớn. Như ngày nay chúng ta thấy các mô hình: cánh đồng lớn, kinh doanh theo chuỗi giá trị,... đã trở thành giải pháp quan trọng trọng, lâu dài trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và sản xuất hàng hóa bền vững.

Nguyễn Ái Quốc đến nước Nga lần thứ nhất (1923-1924) đã tận mắt chứng kiến sức sống của Chính sách kinh tế mới và đã tiếp thu những luận điểm mới mà về con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở một nước mà tiểu nông còn phổ biến. Sau này, trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), cũng như khi miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiều luận điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế cũng thể hiện sự vận dụng sáng tạo Chính sách kinh tế mới vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.

2.Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà chính trị nên tư tưởng của Người cơ bản là tư tưởng kinh tế - chính trị, kinh tế - xã hội. Trên cương vị lãnh đạo quốc gia, Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo về xây dựng và phát triển kinh tế ở một nước nông nghiệp lạc hậu, quá độ qua chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội. Có nghĩa là, bỏ qua chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa nhưng không bỏ qua được cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản. Những quan điểm này là một bộ phận đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh và vẫn giữ nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay và có thể coi đây là chuẩn mực, khung tham chiếu cho những người làm công tác tham mưu về kinh tế - xã hội xác định vấn đề cần nghiên cứu đề xuất, xây dựng chủ trương, xác lập mục tiêu, thiết lập phương án triển khai thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng về kinh tế - xã hội.

2.1.Con người là động lực quan trọng nhất của xây dựng và phát triển kinh tế.

Mọi quy luật xã hội đều phát huy tác dụng thông qua hoạt động của con người với tư cách là chủ thể sáng tạo của lịch sử. Cái kích thích, thúc đẩy hay kìm hãm con người trong đấu tranh sản xuất hay đấu tranh xã hội là nhu cầu và lợi ích của họ. Cái thúc đẩy con người trong sản xuất, kinh tế là tiền lương, tiền thưởng; là quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh; là chính sách thuế khóa, giá cả; là vấn đề công bằng, dân chủ trong lao động và phân phối, v.v. Xây dựng và phát triển kinh tế muốn đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao phải tạo ra môi trường kinh doanh bằng các cơ chế, chính sách, phương thức tổ chức, quản lý,… làm cho con người tích cực lao động, năng động, phát huy sức sáng tạo, đem hết trí tuệ làm cho sản xuất, kinh tế phát triển.

Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hoá dân tộc và nhân loại, tiếp thu, vận dụng, phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, mặc dù không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng tư tưởng về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, một tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả điều này cho thấy Hồ Chí Minh nhận thức nhân tố con người là nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực; con người – với tất cả sức mạnh thể chất và tinh thần, với tất cả nhu cầu và lợi ích của nó – bao giờ cũng là mục tiêu và động lực của cách mạng – trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Chính phủ và Đảng chỉ mong giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân"[11].

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, con người là tổng hòa của các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng. Người từng khẳng định: "Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người"[12]. Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con người một cách trừu tượng mà luôn xuất phát từ hoàn cảnh con người hiện thực cụ thể trong các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, nhiều chiều khác nhau. Có thể khẳng định: cách tiếp cận cơ bản nhất của Hồ Chí Minh vẫn là đặt con người trong mối quan hệ với cộng đồng dân tộc.

Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn quan niệm con người, trong cấu trúc nhân cách, là một hệ thống bao gồm tổng hoà nhiều yếu tố hợp thành như: Thể xác và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái xã hội…"Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời"[13]… Cách quan niệm như thế cho phép Hồ Chí Minh đạt tới cái nhìn toàn diện về con người; là cơ sở để Người hiểu, cảm thông, lo lắng cho con người. Đây là tư tưởng chủ đạo, bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát đồng thời lại là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

Theo Hồ Chí Minh, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu từ vốn con người, từ việc phát huy nhân tố con người. Vai trò con người chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo chân chính ra lịch sử chứ không phải "vài ba cá nhân anh hùng nào", thể hiện qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất: Lao động sản xuất, đấu tranh chính trị – xã hội và sáng tạo các giá trị văn hóa – tinh thần. Hồ Chí Minh cũng cho rằng quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo nên lịch sử, sáng tạo nên những giá trị vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội. Người nói: "Tất cả của cải vật chất trong xã hội, đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn và phát triển"[14]. Thông qua quá trình sản xuất, con người không chỉ thực hiện một quy luật tất yếu để tồn tại – lao động, mà còn tạo nên tiền đề vật chất chuẩn bị cho những bước biến đổi, phát triển mới của lịch sử.

Trong quá trình xây dựng, thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của quần chúng nhân dân. Bác viết: "Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng. Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng… Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên"[15], kinh nghiệm trong và ngoài nước cho thấy "có lực lượng dân chúng thì việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra"[16].

Ở nước ta hiện nay, phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục, đào tạo, dạy nghề, chăm sóc sức khoẻ, tạo việc làm, an sinh xã hội… Đầu tư cho con người chính là nhằm phát triển thể lực, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề; tính năng động và sức sáng tạo của con người; phát huy bản sắc văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc để hun đúc thành bản lĩnh, ý chí của con người trong lao động. Đó chính là nguồn nội lực, là yếu tố nội sinh, nếu được phát huy và sử dụng có hiệu quả sẽ là động lực, nguồn sức mạnh để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi nguồn lực con người là "nguồn lực của mọi nguồn lực", là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết định thành công của công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay. Từ Đại hội VI, Đảng ta đã chú trọng: "phát huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, hướng sự sáng tạo đó vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới"[17] và chăm lo bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người, trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; phát huy mọi tiềm năng thế mạnh của con người để vừa tập trung cao cho phát triển kinh tế, vừa tăng cường quốc phòng, an ninh, tạo cơ sở nền tảng vững chắc bảo vệ thành quả của cách mạng trong điều kiện mới. Đây cũng là một cơ sở khoa học đúng đắn để những người làm công tác tham mưu chiến lược các chính sách kinh tế - xã hội cần nắm bắt để vận dụng trong thực tiễn công việc.

2.2.Quan điểm về mục tiêu và con đường phát triển kinh tế của nước ta

Sau khi giành lại độc lập, toàn bộ sức mạnh và ý chí của nhân dân ta từ mục tiêu đấu tranh cho độc lập, tự do được chuyển sang đấu tranh cho mục tiêu ấm no, hạnh phúc, bởi như Hồ Chí Minh từng nói: "Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ"[18].

Người nói: "Tất cả đường lối, phương châm, chính sách,… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân"[19]. Toàn bộ quan tâm của Người về kinh tế là chăm lo phát triển sản xuất, sao cho dân ta có đủ cái ăn, mặc, ở, học hành, đi lại, chữa bệnh, giải trí, v.v. tức là lo sao cho mỗi người lao động đều được ấm no, hạnh phúc. Phát triển sản xuất, cải thiện đời sống của nhân dân, đó là mục tiêu, đồng thời cũng là thước đo tính đúng đắn, ý nghĩa, giá trị của mỗi chính sách, biện pháp kinh tế của chúng ta.

Theo Người, "chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh"[20], vì vậy, phải đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế "làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm"[21]. Do quy luật phát triển không đều nên trong xã hội có bộ phận giàu lên trước, có bộ phận sẽ giàu sau, nhưng về đời sống của nhân dân phải làm cho ai cũng được cải thiện, được nâng cao từng bước, đó là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Thực tế trong quá trình xây dựng phát triển đất nước, khi thực hiện mô hình hợp tác xã, đã có một thời kỳ chúng ta đã lầm lẫn biện pháp với mục tiêu, cho nên Bác Hồ đã nhắc nhở: "cần nhận rõ mục đích của việc tổ chức hợp tác xã là gì? Là để cải thiện đời sống nông dân, làm cho nông dân được no ấm, mạnh khỏe, được học tập, làm cho dân giàu, nước mạnh. Dân có giàu thì nước mới mạnh. Đó là mục đích riêng và mục đích chung của việc xây dựng hợp tác xã"[22]. Nếu đưa người dân và hợp tác xã mà sản xuất không phát triển, thu nhập của xã viên lại kém đi, là không đạt được mục tiêu, cần phải điều chỉnh lại phương pháp, bước đi và cách làm.

Như vậy, ở Hồ Chí Minh, quan điểm về mục tiêu thống nhất với quan điểm về động lực, vì mục đích kinh tế là phục vụ nhân dân nên phải dựa vào dân, biết phát huy sức người, sức của, tinh thần làm chủ của dân để làm cho sản xuất phát triển. Người nói: "chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, và do nhân dân tự xây dựng lấy"[23], đồng thời Người cũng cho rằng "Đưa tiền của dân và sức dân để làm việc ích lợi cho dân, thì bao giờ dân cũng hăng hái, việc cũng thành công. Việc gì dù to lớn tốn kém mấy, dân đồng sức, đồng lòng thì làm cũng được"[24]. "Đảng và Nhà nước ta dùng lực lượng của nhân dân để xây dựng cho nhân dân một đời sống ngày càng sung sướng. Đó là chủ nghĩa xã hội"[25]. Như vậy nhân dân là gốc và vừa là mục tiêu, vừa là động lực của kinh tế.

Vì mục tiêu kinh tế và động lực kinh tế của chủ nghĩa xã hội là nhất trí nên chính sách kinh tế phải thống nhất và phục vụ cho chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ xã hội, không có chính sách, biện pháp kinh tế nào là tự thân, xa rời thậm chí đối với mục tiêu phát triển sản xuất và cải thiện đời sống của nhân dân.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu rõ: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển"[26], đây cũng là kết quả của quá trình kế thừa, phát huy tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh về con đường và mục tiêu và con đường phát triển kinh tế của nước ta.

2.3.Quan điểm về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ

Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành của nền kinh tế quốc dân. Người đã có ý kiến về cơ cấu của hầu hết các cấp, các ngành, các lĩnh vực kinh tế: từ cơ cấu kinh tế của cả nước đến cơ cấu kinh tế của từng ngành, cơ cấu vùng (đồng bằng, trung du, miền núi, miền biển), cơ cấu kinh tế trung ương và kinh tế địa phương, kinh tế trong nước và hợp tác kinh tế với nước ngoài – tức là quan hệ giữa xuất và nhập, giữa tự lực cánh sinh với tranh thủ viện trợ hợp tác với nước ngoài.

Thời điểm tháng 4 năm 1949, khi cuộc kháng chiến cứu nước của ta bước sang giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh cầm cự, chuẩn bị tổng phản công để đi đến toàn thắng, Người đã xác định nhiệm vụ cho từng lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp rất rõ ràng, cụ thể: "Nông: Trồng nhiều lúa, nhiều màu, nhiều bông, để quân và dân đủ ăn, đủ mặc, đủ dùng; Bảo vệ mùa màng, cất giấu thóc lúa, sẵn sàng tiếp tế lương thực cho quân đội và các cơ quan;…; Xây dựng các tổ đổi công để tăng gia sản xuất. Công: Chế nhiều vũ khí, dụng cụ, sản phẩm để đánh giặc và để cung cấp cho nhân dân; Hợp tác với chuyên môn để cải thiện kỹ thuật và điều kiện sản xuất; Bảo vệ nhà máy; Phá kinh tế địch bằng mọi cách.Thương: Mở mang việc buôn bán, giúp vào việc tiếp tế; buôn nội hoá, tránh chợ đen;"[27]. Trong ba mặt trận trên, Người cho rằng ngành nào cũng quan trọng, nhưng trong giai đoạn này thì "quan trọng nhất là nông nghiệp, vì "có thực mới vực được đạo". Có đủ cơm ăn áo mặc cho bộ đội và nhân dân, thì kháng chiến mới mau thắng lợi, thống nhất và độc lập mau thành công"[28].

Sau này, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh vai trò cực kỳ quan trọng của nông nghiệp, coi tập trung phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Người cũng nhắc nhở: nông nghiệp muốn làm được chức năng là cơ sở cho sự phát triển của công nghiệp và các ngành kinh tế khác, bản thân nó phải là một nền nông nghiệp toàn diện (có nghĩa là phải bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá, làm muối, trồng rừng và các ngành nghề khác ở nông thôn). Trong trồng trọt phải ưu tiên phát triển cây lương thực bao gồm cả hoa màu và còn phải phát triển cây công nghiệp vì Người cho rằng: "khả năng trồng cây công nghiệp rất lớn. Phải trồng thật nhiều gai, trẩu, sở, chè, hồi, cây màng tang, đỗ tương, lạc, mía, v.v.. Các thứ này dân ta cần nhiều và xuất khẩu cũng được tiền. Phải trồng thêm nhiều cây ăn quả."[29].

Về chăn nuôi, Người chủ trương: "Phải đẩy mạnh chăn nuôi vì ở miền núi và trung du có nhiều điều kiện thuận lợi. Không những chú ý chăn nuôi lợn mà lại phải hết sức chú ý chăn nuôi trâu, bò, ngựa, dê, ong, v.v."[30], không những chỉ nuôi lấy thịt mà còn để vắt sữa nữa.

Người cũng chỉ rõ do chỗ bắt đầu đi lên của ta là nông nghiệp, nên trước mắt chúng ta phải lấy nông nghiệp làm chính, tức là theo cơ cấu nông – công nghiệp. Nhưng nông nghiệp chỉ có thể phát triển mạnh, có sản phẩm dồi dào khi mà ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi, mà muốn có nhiều máy, thì như Bác Hồ nói "phải mở mang các ngành công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép, than, dầu... Đó là con đường phải đi của chúng ta: Con đường công nghiệp hoá nước nhà. Hiện nay, chúng ta lấy sản xuất nông nghiệp làm chính. Vì muốn mở mang công nghiệp thì phải có đủ lương thực, nguyên liệu... Nhưng công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường no ấm thật sự của nhân dân ta."[31].

Về cơ cấu của ngành công nghiệp, Bác đã đề cập đến vị trí, chức năng của từng ngành: công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp địa phương và tiểu thủ công nghiệp. Về công nghiệp nặng, Người viết "Công nghiệp nặng là đầu mối để mở mang các ngành công nghiệp khác và cung cấp máy móc cho nông nghiệp. Cho nên chưa có công nghiệp nặng thì chưa thể gọi là công nghiệp hóa. Chưa có công nghiệp nặng thì chưa thể có một nền kinh tế tự chủ và giàu mạnh được"[32]. Đối với công nghiệp nhẹ, Người nói: "Ngành công nghiệp nhẹ quan hệ rất khăng khít với đời sống hàng ngày của nhân dân. Vì vậy, nhiệm vụ của công nghiệp nhẹ là rất quan trọng"[33]. Đối với công nghiệp địa phương, Người nhắc nhở: "Công nghiệp địa phương cần phải nhằm cung cấp những hàng hóa và dụng cụ thích hợp với nhu cầu của đồng bào các dân tộc, trước hết là các thứ nông cụ. Phải làm đúng 4 chữ: nhiều, nhanh, tốt, rẻ"[34], đồng thời chú ý "làm những thứ gì mà địa phương sẵn có nguyên liệu để sản xuất, sản xuất rồi có thể tiêu thụ ở địa phương"[35]. Đối với tiểu thủ công nghiệp, Người khẳng định "thủ công nghiệp cũng là một bộ phận quan trọng trong kinh tế nhà nước và quan hệ đến đời sống của hàng vạn đồng bào"[36]. Vì vậy, Người yêu cầu cán bộ công nhân cần ra sức phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động và chính quyền cần phải giúp đỡ các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp ổn định và phát triển, khơi dậy tiềm năng của các ngành thủ công truyền thống tinh xảo, đồng thời phát triển các ngành nghề ở nông thôn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ mối quan hệ khăng khít giữa nông nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn này, đó là: "Công nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là cho nông dân; cung cấp máy bơm nước, phân hóa học, thuốc trừ sâu... để đẩy mạnh nông nghiệp; và cung cấp dần máy cấy, máy bừa cho các hợp tác xã nông nghiệp. Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển. Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh, và nhanh chóng đi đến mục đích. Thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, sung sướng cho nhân dân"[37].

Không chỉ nông nghiệp và công nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất xem trọng vai trò của lưu thông hàng hóa và thương nghiệp đối với việc thúc đẩy sản xuất phát triển, xem đây như một bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu vận động của nền kinh tế. Người nói: "phải hiểu rõ trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt quan trọng: Nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp. Ba mặt công tác quan hệ mật thiết với nhau. Thương nghiệp là cái khâu giữa nông nghiệp và công nghiệp. Thương nghiệp đưa hàng đến nông thôn phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa nông sản, nguyên liệu cho thành thị tiêu dùng. Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không liên kết được nông nghiệp với công nghiệp, không củng cố được công nông liên minh. Công tác thương nghiệp không chạy thì hoạt động nông nghiệp, công nghiệp sẽ bị rời rạc"[38]. Có thể thấy, việc lựa chọn cơ cấu và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận thành phần trong nền kinh tế, giai đoạn những năm 1960 đã gặt hái được những kết quả quan trọng, tạo không khí tưng bừng phấn khởi để nhân dân ta bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, kính tế nước ta đã có những bước tiến dài, đất nước và con người đều có những đổi mới, sau đó Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, đất nước ta lại chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế cho phù hợp với điều kiện chiến tranh, Người vẫn nhắc nhở: "Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý cả các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế, v.v. Các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm."[40].

Tư tưởng kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cơ cấu các thành phần kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ thể hiện quan điểm xuyên suốt là: Tập trung phát triển nông nghiệp trong mối quan hệ tác động biện chứng với phát triển công nghiệp thông qua việc mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hóa, hết sức chú trọng sản xuất lương thực và gắn bó hài hòa nó với sản xuất thực phẩm, các mặt hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu nhằm tận dụng lợi thế so sánh trong nước và tranh thủ các yếu tố ngoài nước để thúc đẩy nền kinh tế nước nhà phát triển. Đối với kinh tế địa phương cũng tập trung vào thế mạnh của từng địa phương, từng vùng để phát triển đảm bảo nguyên tắc hiệu quả.

Thực tế quá trình phát triển kinh tế - xã hội sau khi kết thúc chiến tranh, tư tưởng chủ quan, duy ý chí đã xuất hiện sớm dẫn đến việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng bất hợp lý gây ra tình trạng nhiều công trình lớn, dở dang, kém hiệu quả làm cho đời sống lại lâm vào khó khăn, thiếu thốn triền miên cho đến khi Đại hội VI đã mở đầu thời kỳ "Đổi mới" bằng cách trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước đã kiên trì con đường đổi mới, thế và lực của Việt Nam cũng được nâng lên nhiều mặt, đời sống của nhân dân được nâng cao, đó cũng là minh chứng sinh động của kết quả quá trình vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ ở nước ta.

2.4.Quan điểm về các hình thức sở hữu, các thành phần và cơ cấu các thành phần kinh tế của nền kinh tế.

 Tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh về các hình thức sở hữu và kinh tế nhiều thành phần được thể hiện rõ nhất trong hai tác phẩm là "Thường thức chính trị" (1953) và "Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp Thứ 11 Quốc Hội Khóa I Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" (1959). Theo đó, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận và chỉ ra các loại hình kinh tế, các hình thức sở hữu khác biệt, nhưng được cố kết lại thành một chỉnh thể kinh tế – xã hội quá độ trong quá trình vận động. Đặc biệt, khi sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau vẫn còn là một tất yếu khách quan và có vai trò nhất định đối với sự phát triển của nền kinh tế thì cần phải tiếp tục sử dụng, phát triển chúng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng, trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phải thực hiện "chế độ dân chủ mới". "Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: (1) Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân); (2) Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội); (3) Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội); (4) Tư bản của tư nhân; (5) Tư bản của nhà nước (…). Trong năm loại trên, loại (1) là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả, cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản"[41].

Từ năm 1959, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trong nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất như sau: (1) Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân. (2) Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. (3) Sở hữu của người lao động riêng lẻ. (4) Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản. Trong đó, "kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên" và "kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động; nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nó phát triển… Hợp tác hoá nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Kinh nghiệm qua thực tiễn chứng tỏ rằng hợp tác hoá nông nghiệp ở nước ta cần phải trải qua hình thức tổ đổi công và hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Đó là việc rất cần thiết... Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện. Đối với những nhà tư sản công thương, nhà nước không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước"[42].

 

Bác Hồ về thăm Hợp tác xã Yên Trường – Thanh Hóa ngày 11.12.1961[43]

Để xây dựng và phát triển nền kinh tế có nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu như trên, Hồ Chí Minh đưa ra chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ gồm bốn điểm mấu chốt sau đây:

"(1) Công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó. Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp của công, khai gian lậu thuế, thì phải trừng trị. Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân.

(2) Chủ thợ đều lợi… Chính phủ phải bảo vệ lợi quyền của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức. Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên.

(3) Công nông giúp nhau. Công nhân ra sức sản xuất nông cụ và các thứ cần dùng khác, để cung cấp cho nông dân. Nông dân thì ra sức tăng gia sản xuất, để cung cấp lương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân. Do đó mà càng thắt chặt liên minh giữa công nông.

(4) Lưu thông trong ngoài. Ta ra sức khai lâm thổ sản để bán cho các nước bạn và để mua những thứ ta cần dùng. Các nước bạn mua những thứ ta đưa ra và bán cho ta những hàng hóa ta chưa chế tạo được. Đó là chính sách mậu dịch, giúp đỡ lẫn nhau rất có lợi cho kinh tế ta.

Bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế của nước ta"[44].

Hồ Chí Minh cũng có quan điểm khách quan với kinh tế tư bản tư nhân trong nước vì nhìn thấy đặc điểm riêng của giai cấp tư sản Việt Nam. Đó là "giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước", cho nên, "nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội"[45]. Bên cạnh đó, Người cũng rất quan tâm đến việc làm ăn, phát triển kinh tế, đầu tư của người nước ngoài tại Việt Nam: "Các bạn, người buôn bán, kinh doanh, tiểu thương, tiểu chủ, công nhân và trí thức, đã chung sống với nhân dân Việt Nam. Các bạn đã khai cơ lập nghiệp ở Việt Nam. Những hoạt động chính đáng về kinh tế và văn hóa của các bạn cũng có lợi cho Việt Nam. Vì vậy tôi khuyên các bạn: Các bạn cứ yên lòng làm ăn như thường. Nhân dân và Chính phủ Việt Nam sẽ giúp đỡ và bảo hộ các bạn"[46].

Thừa nhận sự tồn tại khách quan, lâu dài của các thành phần kinh tế không xã hội chủ nghĩa là sự vận dụng sáng suốt những quan điểm mácxít của Hồ Chí Minh trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở thời kỳ quá độ. Mặt khác với đường lối xây dựng, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Hồ Chí Minh đã huy động được sức mạnh của toàn dân tộc có liên minh công nông trí thức làm gốc cùng tiến vào thời kỳ mới của dân tộc – xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, hoàn thành khát vọng của dân tộc: Độc lập dân tộc và tự do hạnh phúc cho toàn dân. Đây cũng là giải pháp quan trọng nhằm giải phóng sức sản xuất, khơi dậy tiềm năng của đất nước.

Thấm nhuần tư tưởng của Người, trong 30 năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước đã kiên định theo con đường phát triển kinh tế nhiều thành phần đảm bảo khai thác mọi tiềm năng, lợi thế và tận dụng động lực của các thành phần trong nền kinh tế từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

2.5.Về quan điểm phát triển kinh tế phải gắn liền với thực hiện nhiệm vụ chính trị, tiến bộ xã hội, văn hóa và đạo đức

Gắn bó kinh tế với chính trị, xã hội, văn hóa và đạo đức con người là một trong những quan điểm rất cơ bản của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh. Chính trị chỉ đạo kinh tế, kinh tế phát triển sẽ củng cố cho nền tảng chính trị bền vững. Nhưng kinh tế phát triển cũng có thể dẫn tới phá vỡ, gây mất cân đối giữa kinh tế với văn hóa, kinh tế với tiến bộ xã hội – đạo đức, kinh tế với môi trường tự nhiên, v.v. Hồ Chí Minh rất nhạy cảm với các vấn đề này nên trong chỉ đạo phát triển kinh tế, Người không chỉ nói một mặt, nhấn mạnh một chiều mà luôn luôn có sự kết hợp, nhằm tạo ra sự phát triển hài hòa giữa kinh tế với tiến bộ xã hội và đạo đức con người. Đảm bảo việc phân phối của cải vật chất phải có sự công bằng, gắn với hiệu quả sản xuất đồng thời có sự chí công, vô tư của cán bộ. Đây cũng là cách vận dụng sáng tạo quan điểm của các nhà kinh điển C.Mác, Ph.Ăngghen trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Về văn hóa, Hồ Chí Minh luôn khẳng định văn hóa tồn tại trong mối liên hệ biện chứng với các yếu tố kinh tế, chính trị và chịu sự quy định của kinh tế, chính trị. Người viết: "Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước. Nhưng phát triển để làm gì? Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta"[47].Từ đó Người chỉ rõ trong công cuộc kiến thiết nước nhà thì bốn vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phải chú ý, coi trọng ngang nhau, trong đó "văn hóa phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng…, nội dung văn hóa phải có ý nghĩa giáo dục... Văn hóa phải gắn liền với lao động, sản xuất"[48]. Theo Người, văn hóa thuộc kiến trúc thượng tầng, gắn bó hữu cơ với cơ sở hạ tầng; vì thế, từ trong bản chất và tuân thủ quy luật chung, văn hóa ở trong kinh tế và chính trị, văn hóa không thể đứng ngoài, mà có nhiệm vụ góp phần thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế, phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân, trở thành một động lực to lớn, chủ động tác động tích cực trở lại đối với kinh tế và chính trị. "Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị"[49].

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rất rõ: tăng cường xây dựng văn hóa chính là để thực hiện nhiệm vụ cơ bản là phát triển kinh tế. Việc xây dựng kinh tế phát triển đất nước trông chờ rất lớn vào việc xây dựng văn hóa nhằm tạo ra động lực tinh thần lớn mạnh. Người viết: "Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ… cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh"[50]. Đồng thời, cũng theo quan điểm của Người, một mặt, phát triển kinh tế là nền tảng để xây dựng văn hóa, nhưng mặt khác, văn hóa có tính độc lập tương đối của nó. Văn hóa không phụ thuộc một cách máy móc vào điều kiện sinh hoạt vật chất, vào mức sống, mà có khi cách mạng tư tưởng - văn hóa phải đi trước một bước để dọn đường cho cách mạng công nghiệp, theo tinh thần văn hóa soi đường cho quốc dân đi.

Bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, sản xuất trở thành nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất, vì vậy mà tất cả phục vụ sản xuất. Người nói: "Muốn có chủ nghĩa xã hội thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất. Sản xuất là mặt trận chính của chúng ta hiện nay... Trong kháng chiến, Đảng ta nêu khẩu hiệu: Tất cả cho tiền tuyến! Thì ngày nay, khẩu hiệu của chúng ta là: Tất cả phục vụ sản xuất! Tất cả chúng ta, bất kỳ ở cấp nào, ngành nào, đều phải góp sức làm cho sản xuất phát triển"[51]. Đồng thời, Người cũng cho rằng mỗi người cần nhận rõ: "Lao động là một nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người công dân đối với Tổ quốc. Ai cũng phải tuỳ khả năng mình mà tự nguyện tự giác tham gia lao động, góp phần xây dựng nước nhà"[52].  Đây là một trong những quan điểm cơ bản nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế mà Người đòi hỏi phải quán triệt, phải làm cho nó trở thành tư tưởng chủ đạo, chi phối cách nghĩ, cách sống của mọi người, bởi thời kỳ đó còn tồn tại suy nghĩ rằng cứ tuyên bố xây dựng chủ nghĩa xã hội thì lập tức mọi chuyện sẽ tự nhiên trở nên tốt đẹp. Theo Hồ Chí Minh, góp sức cho sản xuất phát triển phải trở thành thước đo đạo đức và ý chí cách mạng của mỗi người, và Người yêu cầu "kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất"[53].

Bác cho rằng, muốn được sung sướng không có cách nào khác là phải cần cù lao động, Người đưa ra khẩu hiệu: "Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta". "Trong xã hội ta, không có nghề nào thấp kém, chỉ có những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ"[54]. Cần cù phải đi đôi với tiết kiệm, vì "sản xuất nhiều mà không tiết kiệm thì như nước ở chỗ này chảy ra chỗ kia, nên kết quả ít"[55]. Do đó, phải làm cho ý thức tiết kiệm trở thành một tâm lý đạo đức ngự trị trong xã hội.

Tiết kiệm, theo Hồ Chí Minh, bao gồm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm sức lao động và tiết kiệm của cải. Tiết kiệm không phải chỉ là một chuẩn mực đạo đức. Tiết kiệm là để có nhiều của cải, tức là để được tiêu dùng nhiều hơn, lâu dài hơn, nó còn là một phạm trù kinh tế. Tiết kiệm là biết sử dụng thời gian, nhân lực, tài lực, trí tuệ của con người một cách có hiệu quả hơn, nó còn là một vấn đề khoa học. Người cho rằng: "Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc then chốt để khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, để cải thiện dần đời sống của nhân dân, để củng cố miền Bắc, tranh thủ miền Nam, để tăng cường lực lượng đấu tranh thống nhất nước nhà. Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã hội."[56].

Người cũng chỉ ra cho cán bộ, đảng viên rằng muốn làm tốt việc tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu thì cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hành trước và phải biến nó thành một phong trào quần chúng rộng rãi. Bởi vậy, trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ lần thứ 6 của Đảng, ngày 18-01-1949, Bác đã nhấn mạnh "quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính"[57]. Đồng thời, Người cũng yêu cầu với cán bộ, đảng viên trong công việc cần "phải kiên quyết bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh. Chúng ta phải kiên quyết thực hành theo nguyên tắc sau đây: Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta"[58]. Bởi Người cho rằng nếu cán bộ mà quan liêu, xây dựng kế hoạch, viết chương trình rồi ép dân làm, bắt dân chúng theo "thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại."[59].

Cùng với những lời dạy về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, phong cách gần dân, đặt cán bộ, đặt đảng viên và tổ chức Đảng dưới sự giám sát của nhân dân, cuộc đời của Người chính là tấm gương mẫu mực, minh chứng về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm chính để toàn Đảng, toàn dân học tập, noi theo.

Cùng với những nội dung trên, về đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm nâng cao tinh thần tập thể, chống chủ nghĩa cá nhân. Tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh mẹ, đẻ ra mọi tư tưởng sai lệch và tác phong xấu, đó là căn bệnh quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lãnh phí, bảo thủ, rụt rè,… Nhưng Người cũng chỉ rõ: "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là "giày xéo lên lợi ích cá nhân". Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái ngược với lợi ích của tập thể, thì không phải là xấu,… Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa… lợi ích cá nhân nằm trong lợi ích của tập thể. Lợi ích chung của tập thể được đảm bảo bằng lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thỏa mãn"[60].

Qua đó, ta thấy Hồ Chí Minh rất chú ý đến vai trò của nhân tố lợi ích trong kinh tế, đồng thời luôn lấy đạo đức của người chủ tập thể để điều chỉnh kịp thời các xung đột lợi ích, tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, sao cho nhà nước, hợp tác xã và xã viên đều có lợi.

Trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua, nếu chúng ta quán triệt đầy đủ tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực hành theo cách làm của Người, tiến hành chiến lược phát triển kinh tế đi đôi với chiến lược xây dựng công bằng xã hội và đạo đức con người thì sẽ hạn chế được những tác hại ghê ghớm của kinh tế thị trường với những quốc nạn tham nhũng, quan liêu, tha hóa biến chất một lực lượng không nhỏ đội ngũ cán bộ, đảng viên và hủy hoại môi trường sống ở nhiều nơi như hiện nay. Đây là bài học lớn để những người thực hiện công tác tham mưu trong lĩnh vực kinh tế - xã hội cần có cái nhìn tổng thể, toàn diện từ đó đưa ra các chiến lược phù hợp để luôn đảm bảo phát triển kinh tế cần gắn với phát triển xã hội và đạo đức, văn hóa con người.

2.6. Về quan điểm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đồng thời với mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.

Độc lập về chính trị chỉ có thể được củng cố vững vàng trên cơ sở một nền kinh tế độc lập tự chủ đáp ứng được các nhu cầu bên trong và đủ sức giao lưu với bên ngoài nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân. Nếu sản xuất yếu kém, không đáp ứng được nhu cầu trong nước, phải phụ thuộc vào kinh tế nước ngoài thì trước sau cũng dẫn đến bị phụ thuộc về chính trị, không bảo vệ được độc lập và chủ quyền dân tộc.

Trong chỉ đạo cách mạng Việt Nam nói chung cũng như trong xây dựng đất nước nói riêng, Hồ Chí Minh thực hiện triệt để phương châm: độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta"[61] và muốn người ta giúp mình thì trước hết mình phải giúp mình đã bởi "nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao"[62]. Người mong muốn xây dựng một nền kinh tế độc lập, không lệ thuộc vào ngoại bang, dựa vào những điều kiện, tiềm năng sẵn có của dân tộc để không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân.

Cùng với việc đề cao sức mạnh nội lực, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc tranh thủ sức mạnh thời đại. Người luôn chủ trương tăng cường đoàn kết và tranh thủ sự hợp tác quốc tế, coi đây là vấn đề có tầm chiến lược hàng đầu trong đường lối cách mạng Việt Nam. Mục tiêu của đoàn kết và hợp tác quốc tế là tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, làm tăng thêm khả năng tự lực, tự cường, thực hiện mục tiêu cách mạng và bảo vệ quyền lợi quốc gia. Quan điểm này của Hồ Chí Minh được hình thành là kết quả của sự khảo sát thực tiễn, dựa vào truyền thống văn hóa lịch sử của dân tộc, nhận thức quy luật vận động và xu thế phát triển của thời đại ngày nay. Người thấy rằng, hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển kinh tế đất nước là nhu cầu khách quan có tính quy luật phổ biến của mọi nền kinh tế, là điều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện thành công sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Đó chính là nghệ thuật kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong tiến trình phát triển.

Mở rộng hợp tác quốc tế trong xây dựng và phát triển kinh tế là một tư tưởng lớn và nhất quán của Hồ Chí Minh. Người cho rằng: "sự tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế; và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường"[63].

Sau Cách mạng tháng Tám, quan điểm hợp tác kinh tế quốc tế lại được Hồ Chí Minh khẳng định: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa "sẽ đứng với tất cả các nước bầu bạn"[64] và "sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thực thà"[65].

Ngay từ tháng 12/1946, trong lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc, Người đã tuyên bố chính sách mở cửa của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên tất cả các lĩnh vực nói chung và kinh tế nói riêng. Theo đó, với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: "nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc…"[66]. "Là một nước dân chủ,… nước Việt Nam mong muốn được đóng góp vào việc thiết lập và duy trì hoà bình và dân chủ trên thế giới, bên cạnh Liên hợp quốc"[67].

Khi đất nước bước vào thời kỳ quá độ dần lên chủ nghĩa xã hội, hợp tác kinh tế quốc tế càng cần thiết hơn. Hồ Chí Minh đã xác định: "Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội… cần mở rộng công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp để nâng cao sức sản xuất và cải thiện đời sống của nhân dân. Chúng tôi cần nhiều dụng cụ, máy móc và hàng hóa của các nước,... Và chúng tôi có thể cung cấp cho những nước ấy lương thực, cây công nghiệp và khoáng sản"[68].

Quan điểm phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, kết hợp với mở rộng hợp tác quốc tế luôn được Hồ Chí Minh quán triệt và kiên trì thực hiện trong suốt quá trình Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, hợp tác kinh tế quốc tế bao gồm những nội dung rất rộng, phải định hướng và tuân thủ các nguyên tắc nhất định.

Trước hết, tự lực, tự cường, xây dựng tiềm lực trong nước là điều kiện để mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế. Theo Người, độc lập của Việt Nam luôn luôn nhờ nơi lực lượng của Việt Nam, "phương châm của ta hiện nay là: Tự lực cánh sinh là chính, việc các nước bạn giúp ta là phụ. Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta. Ta phải khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta. Song nhân dân và cán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ lại"[69].

Ở đây, ta có thể thấy Hồ Chí Minh đã xác định đúng vị trí và giải quyết chính xác phép biện chứng về mối quan hệ giữa nhân tố bên trong và bên ngoài, giữa nội lực và ngoại lực trong xây dựng và phát triển kinh tế; nhân tố bên trong, nội lực là chính, là quyết định; còn nhân tố bên ngoài, ngoại lực là phụ, nhưng lại rất cần thiết và quan trọng.

Tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và các điều kiện khách quan, Hồ Chí Minh đã có những quan điểm chỉ đạo, xử lý mối quan hệ kinh tế đối ngoại phù hợp với từng đối tác cụ thể, căn cứ vào sự tương hợp về chính trị, lịch sử và địa lý, nghĩa là phải có trọng tâm, trọng điểm, có thứ tự ưu tiên. Trước hết là coi trọng và mở rộng hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Thứ hai là các nước láng giềng và các nước bạn. Thứ ba là các nước lớn, có tiềm lực kinh tế và khoa học - kỹ thuật, có vị trí và vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế. Thứ tư là những nước đã có các quan hệ trong lịch sử, thuận lợi cho việc hiểu biết tâm lý người Việt Nam, hiểu biết những điều kiện tự nhiên và xã hội của đất nước và con người Việt Nam. Và thứ năm là các đối tác khác trên thế giới. Bên cạnh đó, cần cân nhắc kỹ lưỡng khi quyết định những dự án đầu tư vốn nước ngoài trên nhiều tiêu chuẩn, trong đó, cần chú trọng tiêu chuẩn kỹ thuật - công nghệ bởi Hồ Chí Minh đã sớm nhắc nhở: "Đặt kế hoạch công nghệ cho đúng đắn và hợp lý là điều kiện chủ chốt trong việc tiêu dùng tiền của"[70].

Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là cơ sở nền tảng, kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước ta trong các giai đoạn cách mạng. Nhờ vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta đã tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế; góp phần quan trọng vào những thắng lợi vẻ vang của dân tộc trong thế kỷ XX; góp phần hoạch định đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế có hiệu quả trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.

Kế thừa tư tưởng của Người, từ tổng kết thực tiễn, Đại hội XI (2011) của Đảng đã sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm lớn, trong đó có bài học: "kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại"[71]. Đại hội XII nhấn mạnh nhiệm vụ: "Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế"[72].

Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đây là bước cụ thể hóa Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế. Đây cũng chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập và hợp tác quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang lại cuộc sống hạnh phúc về vật chất và tinh thần cho nhân dân và hội nhập để đất nước sánh vai cùng với các cường quốc năm châu.

3.Học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở Ban Kinh tế Trung ương

3.1.Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế trong công tác đề xuất, tham mưu về kinh tế - xã hội

Với chức năng của Ban Kinh tế Trung ương là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội cùng với nhiệm vụ quan trọng là nghiên cứu, tham mưu, đề xuất xây dựng đường lối, chủ trương, nghị quyết đại hội, các nghị quyết, chỉ thị, quyết định về các cơ chế, chính sách lớn về kinh tế - xã hội, phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất, về các vấn đề xã hội gắn với kinh tế,… tư tưởng của Hồ Chí Minh về kinh tế là một nội dung hết sức quan trọng để phục vụ cho quá trình thức hiện chức năng, nhiệm vụ của Ban. Bám sát tư tưởng của Bác về kinh tế, đặt các tư tưởng của Người về kinh tế như một khung tham chiếu quan trọng cho công tác nghiên cứu, tham mưu, đề xuất chiến lược về kinh tế - xã hội, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, tham mưu của Ban Kinh tế Trung ương qua các thời kỳ đã đã có nhiều đóng góp trong quá trình xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng. Điều này đã được thể hiện trong các văn kiện của các kỳ đại hội Đảng và nhiều nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng qua các thời kỳ, đặc biệt trong 30 năm đổi mới từ năm 1986 tới nay. Những thành tựu, kết quả đó luôn gắn liền với các phong trào thi đua yêu nước của các thế hệ cán bộ, công chức, người lao động của Ban trong gần 70 năm qua. Ghi nhận những thành tích đó, trong dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập, Ban Kinh tế Trung ương đã vinh dự được đón nhận Huân chương Sao Vàng – phần thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước, và Huân chương Lao động hạng Nhất trong dịp kỷ niệm 65 năm (năm 2015), ghi nhận những nỗ lực không ngừng của nhiều thế hệ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Ban Kinh tế Trung ương qua các thời kỳ.

Phát huy truyền thống của các thế hệ cán bộ đi trước, thế hệ cán bộ Ban Kinh tế Trung ương ngày nay luôn có ý thức nắm vững tư tưởng của Hồ Chí Minh về mục tiêu, con đường, động lực phát triển kinh tế của đất nước, cũng như chủ trương, đường lối, chiến lược, của Đảng. Trên cơ sở đó, cùng với chức năng, nhiệm vụ của Ban, các cán bộ nghiên cứu, đề xuất xác định được các vấn đề kinh tế - xã hội có tính vĩ mô, cấp bách mang tính chiến lược để đề xuất, tham mưu cho Đảng trong quá trình thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Quá trình xây dựng các đề xuất, các báo cáo nghiên cứu, các cán bộ của Ban luôn chú trọng nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, chắt lọc các kinh nghiệm từ quá trình của các nước phát triển và đối chiếu với những chuẩn mực là tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế như đã nêu trong các phần trên, xây dựng các báo cáo đề xuất, tham mưu có chất lượng, giải quyết được các vấn đề lớn mà nền kinh tế đang đặt ra. Một số các quan điểm của Người đã được vận dụng và thể hiện trong các chủ trương, đường lối về kinh tế của Đảng ta trong thời gian qua theo một số nội dung chính dưới đây:

Thứ nhất, về quan điểm con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội.

Nắm bắt tư tưởng Hồ Chí Minh xác định con người là mục tiêu cao nhất của sự phát triển xã hội, đồng thời cũng là nguồn lực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, từ Đại hội lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đến nay, vấn đề phát huy nhân tố con người trở thành một trong những tư tưởng chỉ đạo có tính nhất quán của Đảng. Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ sáu, Trung ương  VII (11/1993) Đảng ta khẳng định: "Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực xã hội, phát triển văn hoá, khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế... là chăm sóc, bồi dưỡng để phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc xây dựng xã hội mới"[73]. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu lần thứ VIII (6/1996) của Đảng, chỉ rõ: "Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững,… Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường"[74].

Kế thừa và phát triển các chủ trương trên, Đại hội lần thứ IX tiếp tục đưa ra quan điểm cần "xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội"[75]. Quan điểm này một lần nữa được Đảng ta nhấn mạnh và coi là một trong ba đột phá chiến lược trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 thông qau tại Đại hội lần thứ XI: "Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ"[76].

Báo cáo chính trị của BCH Trung ương XI tại Đại hội lần thứ XII Đảng ta và Nghị quyết của Đại hội cũng đã đề ra 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII trong đó có nhiệm vụ: "Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh", đồng thời Báo cáo cũng cho rằng "Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển"[77].

Trên cơ sở vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người, nhiều nghị quyết riêng biệt về phát triển con người đã được Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, tham gia, góp ý xây dựng như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000; Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Kết luận số 90-KL/TW ngày 4/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về "Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc ​và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Hay một số các nghị quyết cụ thể để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước, khu vực doanh nghiệp như: Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực kinh tế trong đó đưa ra các chỉ tiêu rất cụ thể về cơ cấu lao động, chỉ số phát triển con người, năng suất lao động.

Những nội dung về phát huy yếu tố con người trong các văn kiện quan trọng trên thể hiện một bước tiến trong nhận thức của Đảng sau hơn 30 năm đổi mới, khẳng định và nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của việc phát huy nhân tố con người, phát triển con người toàn diện, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay.

Thứ hai, quan điểm về mục tiêu và con đường phát triển kinh tế của nước ta.

Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh mục tiêu và con đường phát triển kinh tế ở nước ta chỉ đều tập trung nâng cao đời sống nhân dân. Thực tế quá trình phát triển đất nước đã chứng minh, khi các chủ trương, chính sách ra đời nhằm phát huy sức sản xuất xã hội để đạt được mục tiêu nâng cao mức sống của nhân dân thì đều đi vào cuộc sống và có giá trị lâu bền.

Quan điểm này của Hồ Chí Minh luôn được cán bộ nghiên cứu, tham mưu tại Ban chú ý trong quá trình nghiên cứu, tham mưu, đề xuất để Trung ương ban hành các chủ trương và chính sách. Điểm này thể hiện ngày càng rõ trong một số văn kiện Đảng gần đây như: tại Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng đã đề cập: "Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh""[78]. Nội dung này được làm rõ hơn trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đó là: Hoàn thiện đồng bộ và vận hành có hiệu quả thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, huy động và phân bổ, sử dụng có hiệu quả nhất mọi nguồn lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Đối với từng lĩnh vực cụ thể, dựa trên mục tiêu chung, Ban cũng đã tham mưu để đưa ra mục tiêu, con đường đối với một số lĩnh vực, thành phần, thông qua quá trình tham mưu, góp ý để Trung ương Ban hành các nghị quyết, kết luận thúc đẩy lĩnh vực, thành phần đó phát triển phù hợp với mục tiêu chung. Một ví dụ thể hiện điểm này đó là những chủ trường về phát triển hợp tác xã và kinh tế tập thể đã luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, thúc đẩy phát triển, tuy nhiên vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn, vì vậy mà Ban đã tham mưu để Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX đã ban hành Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, theo đó, Nghị quyết khẳng định quan điểm: "Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của thành viên, góp phần xoá đói, giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên, phát triển cộng đồng.". Quá trình 10 năm thực hiện Nghị quyết đã giúp kinh tế tập thể có những chuyển biến tích cực, các tổ chức kinh tế tập thể đã từng bước khẳng định là nhân tố quan trọng góp phần bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị ở cơ sở và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mặc dù vậy, kinh tế tập thể vẫn chưa thoát khỏi yếu kém kéo dài với nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nổi lên là do nhận thức về phát triển kinh tế tập thể của nhiều cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu chưa đầy đủ, chưa thống nhất; ý thức trách nhiệm còn thấp; đánh giá về kinh tế tập thể chưa toàn diện, chưa thấy hết vai trò quan trọng của khu vực kinh tế tập thể trong phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh, quốc phòng nên chưa có sự quan tâm đúng mức.

Thực tế quá trình hướng dẫn, kiểm tra thực hiện Nghi quyết của Trung ương, Chỉ thị và Kết luận của Bộ Chính trị về kinh tế tập thể cho thấy, nơi nào xác định đúng vai trò, mục đích của kinh tế tập thể thì kinh tế tập thể ở nơi đó phát triển. Những hợp tác xã phát triển tốt, thu hút được xã viên đó là những hợp tác xã xử lý được bài toán lợi ích, thu nhập cho xã viên (HTX chăn nuôi Quý Hiền ở Lào Cai, HTX dịch vụ nông nghiệp Tân Cường ở Đồng Tháp,…) còn ở đâu không đạt được mục tiêu đó thì việc phát triển hợp tác xã chỉ mang tính phong trào, hình thức. Trong thời gian gần đây, vai trò của các HTX, tổ hợp tác trong việc hỗ trợ liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản theo mô hình cánh đồng lớn từng bước được khẳng định về hiệu quả, nhất là ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Thông qua các HTX, tổ hợp tác, liên kết giữa nông dân với các doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ mía đường, chè, sữa bò… được củng cố giúp ổn định và nâng cao đời sống của bà con nông dân. Qua đó cũng giúp chuyển giao được công nghệ tiên tiến, hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt trong xây dựng nông thôn mới.

Thứ ba, quan điểm về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ mới.

Tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ mới được thể hiện trên một số điểm chính đó là:

  1. Trong mỗi một giai đoạn việc tập trung, chú trọng vào ngành nào, lĩnh vực nào cần phải xem xét trên quan điểm toàn diện, phát triển gắn với quan điểm lịch sử cụ thể;
  2. Việc phát triển mỗi ngành (công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp,… công nghiệp trung ương, công nghiệp địa phương, công nghiệp vùng,…) đều cần dựa trên lợi thế so sánh của từng địa phương, từng vùng, từng ngành và quốc gia để đảm bảo tối đa hiệu quả (như Bác hay nói nôm là nhanh, nhiều, tốt, rẻ);
  3. Trong giai đoạn phát triển từ sản xuất nhỏ mong muốn nhanh chóng lên sản xuất lớn thì cần bắt đầu từ nông nghiệp, nông dân. Tập trung phát triển nông nghiệp trong mối quan hệ tác động biện chứng với phát triển công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, giáo dục, y tế, v.v..

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cơ cấu thành phần kinh tế quốc dân trong thời kỳ mới là sự đúc kết súc tích và tinh tế về đường lối chiến lược phát triển nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, đây cũng là một phương pháp luận mẫu mực về tư duy kinh tế để cán bộ nghiên cứu, tham mưu, đề xuất ở Ban sử dụng trong quá trình nghiên cứu, đề xuất đường lối, chính sách phát triển kinh tế. Các nội dung này được thể hiện rất rõ nét trong quá trình tham mưu các văn kiện phục vụ cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và các kỳ họp Trung ương gần đây, cụ thể như:

Đối với quá trình góp ý xây dựng các Văn kiện phục vụ cho Đại hội XII của Đảng, quan điểm tập trung phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay được tham mưu theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao giá trị gia tăng và đẩy mạnh xuất khẩu. Từ đây, việc phát triển công nghiệp cũng được đề xuất với nội dung đẩy mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Đây là sự vận dụng tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay, khi việc cung cấp lương thực chuyển từ nhu cầu đủ ăn, đủ mặc trong nước chuyển thành ăn ngon, ăn sạch, mặc đẹp của cả trong nước và thế giới.

Đối với quá trình tham mưu cho Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị trong thời gian gần đây như: Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp; Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; Kết luận số 06-KL/TW ngày 01/9/2016 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW của Ban Bí thư về đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phụ vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Trung ương XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế; Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/01/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế; Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045… Những nghị quyết chuyên đề này cho thấy sự vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xác định cơ cấu hợp lý cho nền kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển để bắt kịp xu thế của thời đại cũng như phát huy được lợi thế so sánh, tăng cường được lợi thế cạnh tranh của quốc gia.  

Thứ tư, quan điểm về các hình thức sở hữu, các thành phần và cơ cấu các thành phần kinh tế của nên kinh tế.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về các hình thức sở hữu, các thành phần và cơ cấu các thành phần kinh tế đó là Người thừa nhận sự tồn tại khách quan, lâu dài các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của đất nước. Ở đây, Hồ Chí Minh chỉ rõ các thành phần kinh tế đang tồn tại khách quan và có tác dụng quan trọng đối với sản xuất. Trong mỗi giai đoạn, tùy thuộc hoàn cảnh khách quan mà lựa chọn thúc đẩy phát triển thành phần cho phù hợp để nâng cao hiệu quả. Bất cứ một hình thức tổ chức sản xuất nào cũng phải hướng đến mục tiêu nâng cao sức sản xuất của xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm lợi ích của các thành phần kinh tế cũng như của người lao động. Quan điểm này của Người đã được đội ngũ cán bộ tham mưu, đề xuất của Ban vận dụng một cách chặt chẽ, đầy đủ trong suốt các giai đoạn phát triển kinh tế đất nước.

Theo tư tưởng của Bác, trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, tại các Đại hội VI, VII, VIII, IX và X, Đảng đều chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Trong nền kinh tế ấy, như khẳng định của Đảng tại Đại hội X: "Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế"[79]. Quan điểm này cũng được Đảng tái khẳng định và cụ thể hóa thêm tại Đại hội XI. Đến Đại hội XII, Đảng ta xác định: "Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật"[80].

Bên cạnh các quan điểm, đường lối thể hiện trong các văn kiện qua các kỳ đại hội, nhiều nghị quyết, kết luận chuyên biệt đã được Ban tham mưu liên quan đến thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế như:

Đối với kinh tế nhà nước, các nghị quyết chuyên đề như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3/6/2017, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.

Đối với kinh tế tập thể, gồm các nghị quyết như: Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 02-01-2008 của Ban Bí thư về tăng cường lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX; Kết luận số 56-KL/TW ngày 21-02-2013 về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương năm Khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể;

Đối với kinh tế tư nhân, qua các thời kỳ, Ban đã tham mưu để Trung ương ra một số nghị quyết quan trọng về kinh tế tư nhân như: Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 18/3/2002, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân đã khẳng định "kinh tế tư nhân là một cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa"[81]; đặc biệt, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được các cán bộ nghiên cứu, tham mưu của Ban dầy công nghiên cứu, khảo sát, tham khảo ý kiến các chuyên gia, doanh nghiệp, doanh nhân, đặc biệt là tham chiếu và vận dụng tổng thể các quan điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế tư nhân để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt được mục tiêu đó, Nghị quyết đã đưa ra hệ thống 6 quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc, bao trùm gồm:

"- Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; là một phương sách quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển.

- Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỉ trọng đóng góp trong GDP.

- Xoá bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng. Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực, nhất là phòng, chống mọi biểu hiện của "chủ nghĩa tư bản thân hữu", quan hệ "lợi ích nhóm", thao túng chính sách, cạnh tranh không lành mạnh để trục lợi bất chính.

- Kinh tế tư nhân được phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Phát huy phong trào khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để các hộ kinh doanh tự nguyện liên kết hình thành các hình thức tổ chức hợp tác hoặc hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, có đủ khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.

- Khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hoá hoặc Nhà nước thoái vốn. Thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất, kinh doanh, cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo mạng sản xuất, chuỗi giá trị thị trường giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tiếp nhận, chuyển giao, tạo sự lan toả rộng rãi về công nghệ tiên tiến và quản trị hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ.

- Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần tự lực, tự cường, lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, gắn bó với lợi ích của đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các chủ doanh nghiệp. Phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng vững mạnh, có ý thức chấp hành pháp luật, trách nhiệm với xã hội và kỹ năng lãnh đạo, quản trị cao; chú trọng xây dựng văn hoá doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân."[82]

Các quan điểm trên đã quán triệt một cách sâu sắc, đầy đủ quan điểm của Hồ Chí Minh về kinh tế tư nhân và được ví như một "khoán 10", thậm chí là công cuộc "đổi mới" lần hai trong chủ trương, đường lối của Đảng về kinh tế.

Bên cạnh các thành phần kinh tế trên, thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng được Ban tham gia góp ý để đưa ra các quan điểm qua các kỳ đại hội Đảng cũng như tham mưu để Bộ Chính trị khóa XI ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 10/4/2013 về hội nhập quốc tế, qua đó giúp tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, vì lợi ích quốc gia, hòa bình và hợp tác phát triển.

Thứ năm, quan điểm phát triển kinh tế phải gắn liền với nhiệm vụ chính trị, tiến bộ xã hội và văn hóa, đạo đức.

Trải qua quá trình phát triển, từ tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận trên nền tảng tư tưởng của Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội, văn hóa có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, làm tiền đề cho nhau cùng phát triển. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiền đề để thực hiện công bằng xã hội, không thể có công bằng, tiến bộ xã hội, văn hóa nếu không dựa trên nền tảng tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở tiếp thu tư tưởng này của Người, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, đề xuất của Ban qua các thời kỳ đã có đóng góp nhiều nội dung có liên quan trong quá trình xây dựng các chủ trương, chính sách đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng cũng đi kèm theo là tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển văn hóa, truyền thống của con người.

Trước hết đó là việc xác lập một hệ thống chính sách để xây dựng và phát triển văn hóa, đáng chú ý là chính sách "kinh tế trong văn hóa" nhằm gắn văn hóa với các hoạt động kinh tế, khai thác tiềm năng tài chính hỗ trợ cho phát triển văn hóa và chính sách "văn hóa trong kinh tế" nhằm để "Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh."[83].

Đại hội X của Đảng đã khẳng định: "Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội"[84]. Sang đến Đại hội XI, Đại hội đã yêu cầu phải "Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Tiếp tục xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Bảo vệ môi trường, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với tình trạng biến đổi khí hậu"[85]. Tới Đại hội XII, quan điểm này vẫn được duy trì với mục đích phải "giải quyết hài hòa giữa mục tiêu trước mắt và lâu dài, giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân"[86].

Trong quá trình tập trung phát triển nhanh về kinh tế, có những lúc nóng vội, chúng ta đã chưa thực hiện đầy đủ những căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các nội dung liên quan đến tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, bệnh quan liêu nên đã để hiện tượng tham nhũng, lãng phí trở thành vấn nạn, gây thiệt hại về nhiều mặt, ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp phát triển đất nước và làm giảm niềm tin của nhân dân vào cơ quan công quyền, đội ngũ cán bộ đảng viên. Nhận thức đầy đủ hiện tượng này, trong thời gian qua, quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương bốn khóa XI, XII của Đảng ta thực hiện ráo riết, quyết liệt, đạt nhiều kết quả tích cực, để lại dấu ấn tốt, được nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ; các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá tích cực. Quá trình đấu tranh phòng chống tham nhũng lãng phí được thực hiện nghiêm từ trên xuống dưới tạo bước đột phá trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong lĩnh vực này. Tham nhũng đang từng bước được kiềm chế và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.  

Thứ sáu, về quan điểm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đồng thời với mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.

Trên cơ sở tiếp cận những quan sát và phân tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh về các vấn đề quốc tế, cách ứng xử trong ngoại giao với các nước đã hình thành hệ thống lý luận, quan điểm, nguyên lý thực tế, sâu sắc cũng như định hướng cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam đó là: độc lập, tự lực tự cường, phát huy sức mạnh dân tộc và thời đại vì thực lực có mạnh thì ngoại giao mới thắng lợi, ta có mạnh thì họ mới quan tâm đến ta; Ngoại giao nhân văn, luôn nêu cao chính nghĩa, hữu nghị, đoàn kết và hợp tác với các dân tộc khác, đấu tranh vì lợi ích của dân tộc mình nhưng cũng phải vị sự tiến bộ chung của nhân loại; "dĩ bất biến, ứng vạn biến", bất biến là độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước còn vạn biến là tùy theo điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm cụ thể mà kết giao, quan hệ với các nước.

Tiếp thu tư trưởng về đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm qua, Ban đã tham mưu cho Trung ương Đảng nhiều nội dung liên quan đến công tác đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện rõ nét việc vận dụng quan điểm của Người trong suốt giai đoạn đổi mới từ năm 1986 đến nay:

Quan điểm về đối ngoại trong các chủ trương, đường lối của Đảng kể từ năm 1986 đến nay có thể chia thành 3 giai đoạn chính:

(1) Giai đoạn 1986-1991: Xây dựng chính sách ngoại giao đa phương, tiền đề của đối ngoại đa phương, phục vụ công cuộc đổi mới (1986-1991), đây là bước đổi mới tư duy về đối ngoại phục vụ cho mục tiêu đổi mới kinh tế. Đại hội Đảng VI (1986) nhấn mạnh: nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại là ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; cần tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới về hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi việc phân công và hợp tác, tranh thủ mở rộng quan hệ với các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình; mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại; tham gia ngày càng rộng rãi vào sự phân công lao động quốc tế; tích cực phát triển quan hệ kinh tế và khoa học, kỹ thuật với các nước khác, với các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi.

(2) Giai đoạn 1991-2005: trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) đã xác định rõ chủ trương hội nhập kinh tế của Việt Nam đó là: Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình; Thể hiện chủ trương này, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng VII (1991) cũng đã xác định cần "đa dạng hoá và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại. Huy động tiềm năng của nền kinh tế, phát huy lợi thế so sánh, vừa đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và đời sống trong nước, vừa hướng mạnh về xuất khẩu"[87]. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội IX (2001) đó là: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển" đồng thời Việt Nam "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường…"[88]

(3) Giai đoạn 2006 đến nay, là giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện, Đại hội X khẳng định Việt Nam "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực". Đồng thời yêu cầu cần "đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất" [89].

Đại hội XI (2011) vẫn tiếp tục nhất quán quan điểm về đối ngoại và có nhấn mạnh thêm nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hoà bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đồng thời cũng yêu cầu cần nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ quốc tế vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế.

 Bên cạnh những nội dung đã được tham mưu trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ đại hội, Nghị quyết số 06-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là một Nghị quyết đầy đủ, bao quát, thể hiện rõ nét tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại đã được cán bộ của Ban nghiên cứu, tham mưu để Trung ương ban hành. Nghị quyết đã xác định mục tiêu cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đó là cần "giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế"; Nghị quyết cũng xác định quá trình hội nhập cần kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó: hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế; Bảo đảm đồng bộ giữa đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Đẩy mạnh việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách…

3.2.Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu, đề xuất ở Ban Kinh tế Trung ương

Trong suốt cuộc đời làm cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề cán bộ và công tác cán bộ. Người cho rằng "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc"[90] và "công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung"[91].

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong hai lần thăm, làm việc với Ban Kinh tế Trung ương đều nhắc đến công tác cán bộ của Ban, Tổng Bí thư chỉ rõ: Ban Kinh tế Trung ương "là Ban của Trung ương, tiếp cận với thông tin, tài liệu mật rất nhiều nên phải xây dựng một tập thể đoàn kết mạnh. Cán bộ ở đây, vừa là cán bộ khoa học, vừa là cán bộ chính trị. Chính trị với khoa học, kinh tế với xã hội nó quyện vào nhau vì sự nghiệp chung của Đảng. Cán bộ ở đây phải là những chuyên gia hàng đầu, có tầm nhìn xa, rộng, có trình độ lý luận, am hiểu thực tiễn, có phương pháp tư duy biện chứng, có cách làm việc hợp lý. Các đồng chí cán bộ lãnh đạo thì đặc biệt phải gương mẫu, thực sự có tâm huyết, trách nhiệm, say mê, đặc biệt là có bản lĩnh, dũng khí, bảo vệ cái đúng và phải dám bác bỏ cái sai"[92].

Bối cảnh Ban Kinh tế Trung ương được Ban chấp hành Trung ương quyết định tái lập từ năm 2012, vì vậy ngoài một số cán bộ thuộc Vụ Kinh tế và Vụ Xã hội của Văn phòng Trung ương Đảng chuyển sang và có nhiều cán bộ mới từ các nơi về. Tiếp thu tư tưởng của Bác và những chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, công tác tuyển dụng, sắp xếp, đào tạo cán bộ luôn được Ban coi trọng và được các đồng chí Lãnh đạo Ban đặc biệt quan tâm.

Với vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược cho Ban chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức của Ban phải có trình độ kiến thức lý thuyết và thực tiễn về kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội sâu và rộng, tư duy tổng thể, đồng thời cũng phải nắm vững quá trình hình thành, triển khai thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng về kinh tế - xã hội. Đặc biệt, cần nắm vững tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kinh tế - xã hội từ đó xây dựng cho mình một khung kiến thức, nhận thức để xây dựng các ý kiến đề xuất, tham mưu các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, trong điều kiện hiện nay, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, đề xuất tham mưu cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, dám nghĩ, dám mạnh dạn đề xuất các quan điểm mới, phù hợp với bối cảnh, tình hình chung đang biến đổi rất nhanh của quốc tế và trong nước.

 Để phát huy được khả năng của đội ngũ cán bộ hiện có, đáp ứng tốt hơn những yêu cầu mà thực tế đang đặt ra trên cơ sở vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, Ban Kinh tế Trung ương cần:

(1) Làm tốt công tác đào tạo cán bộ, công tác này cần toàn diện, chuyên sâu, có phương pháp khoa học, có nội dung, kế hoạch phù hợp với từng loại cán bộ, công chức và cần thực hiện thường xuyên, công phu, kiên trì, bền bỉ và lâu dài;

(2) Quá trình sử dụng cán bộ cần chú ý các công việc liên quan đến "Hiểu biết cán bộ, Khéo dùng cán bộ, Cất nhắc cán bộ, Thương yêu cán bộ, Phê bình cán bộ"[93] như chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn và giải thích chi tiết trong tác phẩm "Sửa đổi lề lối làm việc" Người đã viết năm 1947.

Thực hiện được hai nội dung trên, Ban sẽ xây dựng được đội ngũ cán bộ có đủ đức, đủ tài đáp ứng tốt yêu cầu công việc của Ban trong điều kiện hiện nay.

KẾT LUẬN

 

Tư tưởng kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh chứa đựng những quan điểm cơ bản, vô cùng súc tích và tinh tế về đường lối chiến lược phát triển nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và là một phương pháp luận mẫu mực về tư duy kinh tế. Cách trình bày của Người hết sức giản dị và thiết thực, dễ đi vào lòng người vì nó xuất phát từ nhu cầu và nguyện vọng bức thiết của người dân, phù hợp với điều kiện của một nước từ nông nghiệp lạc hậu quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là sự vận dụng nhuần nhuyễn, sinh động và sáng tạo kiến thức của nhân loại vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, chính vì vậy, nó vừa có ý nghĩa về lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn.

Đất nước ta đang bước sang một thời kỳ lịch sử mới, mở cửa, hội nhập toàn diện với kinh tế với thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức, cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển nhanh chóng, cạnh tranh diễn ra trên quy mô toàn cầu ngày càng gay gắt thì tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh, các phương pháp luận, về các bài học, về các suy nghĩ, tìm tòi lựa chọn, tinh thần sáng tạo và tấm gương mẫu mực về đạo đức, tác phong của lãnh tụ bậc thầy, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vẫn là cơ sở lý luận, chuẩn mực của công tác tham mưu, đề xuất các chính sách kinh tế - xã hội cho Đảng, Nhà nước.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 1
  2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 3
  3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 4
  4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 5
  5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 6
  6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 7
  7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 8
  8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 9
  9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 10
  10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 12
  11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 11
  12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 13
  13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 14
  14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, Tập 15
  15. GS. Lê Huy Tiêu: Từ điển thành ngữ điển cố Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.
  16. Các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng, các nghị quyết Hội nghị của Ban chấp hành Trung ương các khóa VI, VII, VIII. IX, X, XI, XII truy cập tại trang web: http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xii
  17. Các nghị quyết Hội nghị của Ban chấp hành Trung ương các khóa truy cập tại http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xii
  18. Phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tại buổi thăm và làm việc với Ban Kinh tế Trung ương ngày 11-01-2014

 


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, HN, 2016, tr.103.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2011, t.4, tr. 187. Trả lời các nhà báo nước ngoài, đăng trên Báo Cứu quốc số 147, ngày 21-01-1946

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.9, tr. 518. Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói 13-6-1955

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.15, tr. 617. Bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

[5]  Từ điển thành ngữ điển cố Trung Quốc, mục 441, trang 123, GS. Lê Huy Tiêu biên dịch, Nxb Khoa học xã hội, HN, 1993.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.5, tr. 502. 6 điều không nên và và 6 điều nên làm, 04-4-1948

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.6, tr. 232. Dân vận, Báo Sự thật số 120, ngày 15-10-1949

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.15, tr. 224. Bài nói tại kỳ họp Hội đồng Chính phủ 29-12- 1966

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.1, tr. 308. Phát biểu tại phiên họp thứ 25 Đại hội lần thứ V Quốc tế cộng sản ngày 03-7-1924

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.1, tr. 352. Công cuộc khai hóa giết người, đăng trên  Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 69, năm 1924.

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.5, tr. 285. Sửa đổi lề lối làm việc, tháng 10 năm 1947

[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.6, tr. 130. Cần kiệm liêm chính, 1949

[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.15, tr. 672. Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách "Người tốt, Việc tốt", ngày 7-6-1968

[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.8, tr. 247. Chuyên mục Thường thức chính trị in trong Báo Cứu quốc, từ ngày 16-1 đến ngày 23/9/1953

[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.5, tr. 333.  Sửa đổi lề lối làm việc, 10/1947

[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.5, tr. 335.  Sửa đổi lề lối làm việc 10/1947

[18] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.4, tr. 175 Bài phát biểu đầu tiên tại cuộc họp đầu tiên của Ủy Ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc

[19] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.13, tr. 164 Bài nói tại Hội nghị lần thứ năm của BCHTW Đảng Khóa III

[20] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.10, tr. 390 Nói chuyện tại lớp hướng dẫn giáo viên cấp II, cấp III, và Hội nghị sư phạm 7-1956

[21] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.4, tr. 81 Trong nguyên bản không đề ngày tháng. Có thể đây là những ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi Người về thăm Thanh Hóa lần đầu tiên (20-2-1947)

[22] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t12, tr. 316 Bài nói tại Hội nghị rút kinh nghiệm công tác quản lý hợp tác xã nông nghiệp toàn miền Bắc

[23] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.13, tr. 387 Lời khai mạc Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sỹ thi đua toàn quốc Lần thứ hai 4-5-1962

[24] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.6, tr. 172 Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào huyện Quỳnh Côi, Thái Bình, ngày 8- 8 - 1949.

[25] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.13, tr. 432. Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ công đoàn cơ sở toàn Miền Bắc ngày 13-8-1962

[26] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70.

[27] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.6, tr. 59 –Nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới 30-4-1949

[28] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.6, tr. 212. Việt Bắc quyết thắng 9-1949

[29] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.14, tr. 294. Thư gửi Đại hội HTX và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến miền núi và Trung du 11-4-1964

[30] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.14, tr. 294. Thư gửi Đại hội HTX và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến miền núi và Trung du 11-4-1964

[31] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.12, tr. 445. Bài viết Con đường phía trước, đăng báo Nhân Dân số 2134 ngày 20-01-1960

[32] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t12, tr. 449-450  Bài viết  Thế nào là công nghiệp hóa, Báo Nhân Dân, ngày 22-01-1960

[33] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.14, tr. 455 Bài nói tại Hội nghị ngành công nghiệp nhẹ ngày 16-01-1965

[34] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.13, tr. 46  Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Cao Bằng 21-2-1961

[35] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.13, tr. 106 Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Bắc Giang 6-4-1961

[36] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.14, tr. 103 Bài nói tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định 21-5-1963

[37] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.13, tr. 375-376. Bài nói chuyện tại Hội nghị lần thứ bẩy của BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (Khóa III), nói ngày 16-4-1962

[38] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.10, tr. 335 Nói chuyện tại Đại hội chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất 6/1956

[39] Nguồn ảnh: http://www.bqllang.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/5932-sang-ngoi-tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-chi-minh-bai-5-bai-5-phong-cach-cua-su-ket-hop-tinh-hoa-van-hoa-dong-tay.html

[40] Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, t 14, tr.493. Bài nói với cán bộ và xã viên HTX Hồng Thái (Hải Dương) 12-5-1965

[41] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.8, tr. 293-294. Thường thức chính trị 1953

[42] Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, t.12, tr.373. Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp Thứ 11 Quốc Hội Khóa I Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, 18-2-1959

[43] Nguồn: http://laodongthudo.vn/nho-ngay-bac-ho-ve-tham-htx-yen-truong-thanh-hoa-37297.html

[44] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.8, tr.267. Thường thức chính trị, 1953

[45] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.10, tr.391. Bài nói chuyện tại lớp hướng dẫn giáo viên cấp II, cấp III và Hội nghị sư phạm

[46] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.9, tr.80. Lời kêu gọi nhân ngày Thủ đô giải phóng 10-10-1954 đăng trên Báo Nhân dân, số 236, từ ngày 9 đến 10/10/1954

[47] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.12, tr. 470. Bài nói tại Hội nghị đại biểu những người tích cực trong phong trào văn hóa quần chúng 11-02-1960

[48] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.12, tr. 470. Bài nói tại Hội nghị đại biểu những người tích cực trong phong trào văn hóa quần chúng 11-02-1960

[49] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.7, tr. 246. Thư gửi các họa sỹ nhân dịp triển lãm hội họa 1951

[50] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.10, tr. 458-459. Thư gửi đồng bào đã thanh toán nạn mù chữ 21-12-1956

[51] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.13, tr. 68. Bài nói chuyện "Xây dựng những con người của Chủ nghĩa xã hội" tại Hội nghị bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo các cấp toàn miền Bắc giữa tháng 3-1961

[52] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.10, tr. 545. Lời kêu gọi nhân dịp 1-5 đăng trên báo Nhân dân số 1150, ngày 01-5-1957

[53] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.13, tr. 68. Bài nói chuyện "Xây dựng những con người của Chủ nghĩa xã hội" tại Hội nghị bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo các cấp toàn miền Bắc giữa tháng 3-1961

[54] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.13, tr. 69. Bài nói chuyện "Xây dựng những con người của Chủ nghĩa xã hội" tại Hội nghị bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo các cấp toàn miền Bắc giữa tháng 3-1961

[55] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.10, tr. 600. Bài nói chuyện với các đại biêu nhân dân tỉnh Thanh Hóa, 13/6/1957

[56] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.10, tr. 545. Lời kêu gọi dịp 1-5 đăng trên báo Nhân dân số 1150 ngày 01-5-1957

[57] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.6, tr. 16.

[58] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.5, tr. 337-338. Sửa đổi lề lối làm việc

[59] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.5, tr. 333. Sửa đổi lề lối làm việc

[60] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd,  t.11, tr. 610. Bài viết Đạo đức cách mạng đăng trên Tạp chí Học tập số 12 năm 1958

[61] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.3, tr. 596 Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa 18-8-1945

[62] Hồ Chí Minh Toàn tập, tlđd, t.3, tr. 488. Báo cáo của Phân hội Việt Nam thuộc phân hội Quốc tế chống xâm lược do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội toàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) cuối tháng 3-1944

[63] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.1, tr. 14. Vấn đề dân bản xứ, Báo L'Humanité, ngày 2-8-1919.

[64] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.6, tr. 44. Trả lời điện phỏng vấn của Ông Walter Briggs

[65] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.6, tr. 46. Trả lời điện phỏng vấn của Ông Walter Briggs

[66] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.4, tr. 523. Lời kêu gọi Liên hợp quốc

[67] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.4, tr. 329 Diễn văn tại Lễ kỉ niệm quốc khánh đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (02-9-1946) tổ chức tại Paris

[68] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.12, tr. 293. Trả lời nhà báo Nhật Bản Sira Isi Bôn, Báo Nhân dân số 2079 ngày 25-11-1959

[69] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.10, tr. 56-57. Báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại cuộc mít tinh ở Quảng trường Thụy Khê chào mừng Đoàn đại biểu của Chính phủ ta đi thăm Liên Xô và Trung Quốc trở về, 23-7-1955

[70] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.7, tr. 366. Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, nói vào tháng 3-1952

[71] ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.66.

[72] ĐCSVN: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/sach-ve-cong-tac-dang/books-4331201610454246/index-03312016104606468.html tham khảo ngày 20/8/2018

[73] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-vii/phat-bieu-khai-mac-hoi-nghi-lan-thu-sau-bchtw-dang-khoa-vii-ngay-24111993-1134

[74] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-viii/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-vii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-viii-cua-dang-1549

[75] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-ix/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-viii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-ix-cua-dang-1545

[76] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xi/chien-luoc-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-2011-2020-1527

[77] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xii/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xii-cua-dang-1600

[79] Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, http://dangcongsan.vn

[82] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xii/nghi-quyet-so-10-nqtw-ngay-362017-hoi-nghi-lan-thu-nam-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-ve-phat-trien-kinh-te-tu-560

[83] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-33-nqtw-ngay-962014-hoi-nghi-lan-thu-9-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-xay-dung-va-phat-trien-590

[84] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-x/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-ix-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-x-cua-dang-1537

[85] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xi/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-x-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xi-cua-dang-1526

[86] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xii/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xii-cua-dang-1600

[87] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-vii/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-khoa-vi-trinh-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-vii-cua-dang-1800

[88] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-ix/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-viii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-ix-cua-dang-1545

[89] http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-x/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-ix-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-x-cua-dang-1537

[90] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.5, tr. 309

[91] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.5, tr. 280

[92] Phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tại buổi thăm và làm việc với Ban Kinh tế Trung ương ngày 11-01-2014

[93] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tlđd, t.5, tr. 317 – Sửa đổi lề lối làm việc 1947